Thứ Hai, 19 tháng 1, 2015

BẢN CHẤT CON NGƯỜI

Đề tài: BẢN CHẤT CON NGƯỜI
DẪN NHẬP
            Bản chất là tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định bên trong sự vật, quy định sự vận động và phát triển của sự vật. Theo quan niệm của triết học Mác - Lê-nin về bản chất con người, K.C.Mác vạch rõ: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất của con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội” [1]. "Con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật và mặt xã hội, con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử... Theo Ky tô giáo quan niệm con người có thể xác và linh hồn. Thể xác thì mất đi nhưng linh hồn tồn tại vĩnh cửu. Vì vậy, phải thường xuyên chăm sóc linh hồn để hướng đến Thiên đường vĩnh cữu. " [2]. Theo Cơ đốc giáo "thân, hồn, linh là các phần trọng yếu của bản chất người"[3]
            Hai người đầu tiên được Đức Chúa Trời tạo dựng cách thiêng liêng và trực tiếp là A-đam và Eva (Sáng 1:26-27), Đức Chúa Trời tạo dựng theo hình ảnh của Ngài. Hình ảnh của Ngài trong con người nhằm nói lên rằng đây là nét đặc trưng là cái thuộc về bản chất của Đức Chúa Trời đặt trong con người làm cho con người có nhân vị, có nhân cách một giá trị làm người để phân biệt với các loài thọ tạo khác mà muôn loài tạo vật khác không có. Chính gía trị làm người nên con người giao thông với Đức Chúa Trời qua đó khi tiếp nhận ơn cứu rỗi của Chúa, bởi việc thánh hóa của Ngài trong đời sống của người tin Chúa, Đức Thánh Linh làm sản sinh trong người đó các phẩm chất đạo đức của Chúa. Tùy theo mối quan hệ thuộc linh của con người với Đức Chúa Trời, họ sẽ được hưởng phước hạnh hoặc sự phán xét khi Chúa Giê-xu Christ tái lâm. Con người có nhân vị, sự phạm tội không làm cho họ mất bản chất làm người, trong đó kể cả những người vô tín, ngoại giáo, hay người theo Tín ngưỡng Thờ thần hay Thờ cúng ông bà tổ tiên...
            Người viết nghiên cứu  khái niệm về bản chất con người theo Cơ-đốc-giáo trong xã hội Việt nam và khái niệm về bản chất con người của người theo Tín ngưỡng Thờ cúng ông bà. Bài viết cũng nêu các ảnh hưởng của khái niệm này trên đời sống cá nhân và xã hội của các khuynh hướng trên, bằng các phương pháp nghiên cứu tài liệu và tổng hợp trên đời sống thực tế của xã hội.

THÂN BÀI
I/ Bản chất con người Cơ đốc giáo
            I.1. Được tái sinh:
            Sự tái sinh là hành động của Đức Chúa Trời, Ngài thanh tẩy tội lỗi của tội nhân, đổi mới họ thành con người mới trong Chúa chuyển giao cho họ sự sống thuộc linh, họ trở thành công dân thuộc vương quốc của Đức Chúa Trời. Những người được cứu, được tái sinh trong Chúa Cứu Thế Giê-xu (2Cô 5:17) bởi Đức Chúa Trời, người được tái sinh tiếp tục được Chúa thánh hóa, quá trình thánh hóa được tiếp diễn trong suốt cuộc đời người tin Chúa, đồng hành cùng Chúa cho đến cuối cuộc đời của mình trên đất này. Đến khi Chúa Giê-xu tái lâm, Ngài sẽ biến hóa thân thể của họ (1Cô 15:50-57), Trong trạng thái đã được biến đổi, những người được cứu sẽ mãi mãi có hình dạng giống như Chúa Giê-xu vinh hiển (1Gi 3:2), con người mãi mãi là loài thọ tạo có thân vị của Ngài.
            I.2. Sự làm việc[P11] 
            Khi tạo dựng A-dam và đặt ông vào vườn E-đen, Đức Chúa Trời ban cho con người việc làm (Sáng 2:15), công việc làm còn vượt ra xa quá phạm vi của vườn E-đen là quản trị chim trời cá biển. Đức Chúa Trời cũng tạo dựng E-va, công việc của E-va làm người người giúp đỡ cho A-đam (Sáng 2:18). Tuy nhiên, họ đã phạm tội, từ đó công việc trở thành kế sinh nhai cho con người và đất cũng bị rủa sả do thiên thượng, con người phải vã mồ hôi, kiếm miếng ăn nhọc nhằn (Sáng 3:17-19). Dầu làm việc khổ nhọc nhưng sự lao động mang lại lợi ích cho con người (Truyền đạo 2:24). Giúp cho họ sáng tạo, phát huy những sở trường, khắc phục sở đoản của bản thân, kết quả của lao động là mang lại lợi nhuận, đem lại cho chính bản thân họ và người trong gia đình một cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Sự bảo đảm về vật chất cho chính cá thể, song song theo đó cũng đóng góp cho cộng đồng mà họ sinh sống. Chúa Giê-xu có nguyên tắc là người làm công đáng nhận tiền công của mình (Lu-ca 10:7). Ngược lại Kinh thánh cũng lên án sự lười biếng mà phải lấy chính tay mình làm lụng (1 Tês 4:11).
            I.3. Sống làm theo Lời Chúa
            Toàn bộ sự sống của người đã được cứu phải được xem như là để hầu việc Chúa (Rô 12:1-2; 2Cô 5:15). Khi tuân theo ý Chúa, vâng Lời Chúa để Ngài dẫn dắt từng bước và làm theo ý Ngài (Gi 15:4-5). Khi cơ đốc nhân đang làm công việc đời thường, qua công việc có thể Đức Chúa Trời chăm sóc tha nhân qua những việc làm của người Cơ đốc. Đó cũng là mục đích làm vinh hiển Đức Chúa Trời qua đời sống của cơ đốc nhân, nghĩa là con cái Chúa phải làm ống dẫn tình yêu, phước hạnh của Chúa, làm muối cho đất và làm ánh sáng cho thế gian, để cho người lân cận trong cộng đồng mình đang sống nhìn thấy Chúa qua đời sống của chính mình.
            Sứ đồ Phao-lô dạy dỗ những người làm công như sau: - Thực hiện như sự trung thành với chủ (Êph 6:5-6; Côl 3:22); - Phải có lòng tốt đối với chủ (Êph 6:7); - Phải làm công việc như làm cho Chúa chứ không phải cho người ta (Côl 3:23). Sứ đồ Phao-lô cũng đưa ra những lời dạy dỗ cho người làm chủ (Êph 6:9; Côl 4:1). Đức Chúa Trời là chủ nhân đích thực của công việc, nếu phải chọn lựa giữa ý muốn Đức Chúa Trời và ý muốn con người thì phải chọn lựa vâng lời Đức Chúa Trời (CV 5:29), cũng giống như Chúa Giê-xu đã từ bỏ nơi cao sang, vâng lời Đức Chúa Trời làm Đấng Cứu Thế của nhân loại (Gi 3:16).
            I.4. Sự chết
            Sự chết không phải là một phần trong sự sáng tạo nguyên thủy của Đức Chúa Trời, mà là án phạt của tội lỗi (Rô 6:23). Sự chết thâm nhập vào loài người qua sự vi phạm đầu tiên của E-va và A-đam (Sáng 2:17; Rô 5:12), những người chưa được Chúa cứu trước sự chết rất kinh hãi vì đó là sự chia ly vĩnh viễn, mang đến đau thương cho người thân, còn đối với cơ đốc nhân sự chết chẳng phải điều gì để lo âu (Khải 1:17-18). Theo Kinh thánh sự chết có ba loại: Sự chết thuộc linh , sự chết thuộc thể và sự chết đời đời.
            Sự chết thuộc linh: Sự chết thuộc linh cũng gọi là sự phân cách khỏi Đức Chúa Trời "Bởi sự ngu muội ở trong họ, và vì lòng họ cứng cỏi nên trí khôn tối tăm, xa cách sự sống của Đức Chúa Trời" (Ê-phê-sô 4:18). Sự chết diễn ra cho nhân loại, Kinh thánh cho biết: "... vì một mai ngươi ăn chắc sẽ chết" (Sáng 2:17). Trong vườn Ê-đen, ông A-đam và bà Ê-va không chết ngay về phần xác khi họ ăn trái cấm mà họ chết trên phương diện thuộc linh. Sự chết thuộc linh là kết quả của sự sa ngã, sự chết thuộc linh là sự chết thiên nhiên của loài người (Mat 8:22; Lu 9:60). Sự chết này có giải cứu được không? Kinh thánh cho biết rằng Đức Chúa Trời giải cứu khỏi sự chết thuộc linh (Êp 2:5). Lời kêu hãy vùng dậy từ sự chết thuộc linh (Êp 5:14). Các tín đồ được sống lại khỏi sự chết thuộc linh (Gi 5:24). Ví dụ về sự chết thuộc linh, những hài cốt khô Ê-xê-chi-ên 37:1-10.       
            Sự chết thuộc thể: Đức Chúa Trời giết thú vật lấy da mặc cho ông A-đam và bà Ê-va (Sáng 3:21). Người đầu tiên chịu chết là A-bên con của A-đam, bị anh là Ca-in giết "Ca-in xông đến A-bên là em mình và giết đi." (Sáng 4:8b). Sự chết thuộc thể được mô tả là: (1) Ngủ, "La-xa-rơ, bạn ta, đang ngủ" (Giăng 11); (2) Linh hồn bị đòi lại, "Hỡi kẻ dại! Chính đêm nay linh hồn ngươi sẽ bị đòi lại; vậy những của cải ngươi đã sắm sẵn sẽ thuộc về ai?" (Lu-ca 12:20) ; (3) Đi con đường không trở lại. "Vì ít số năm còn phải đến, rồi tôi sẽ đi con đường mà tôi chẳng hề trở lại." (Gióp 16:22)...
            Sự chết đời đời: Dành cho người không được biên tên vào danh sách sự sống: "Còn ma quỉ là đứa đã dỗ dành chúng, thì bị quăng xuống hồ lửa và diêm, trong đó đã có con thú và tiên tri giả rồi. Chúng nó sẽ phải chịu khổ cả ngày lẫn đêm cho đến đời đời... Hồ lửa là sự chết thứ hai. Kẻ nào không được biên vào sách sự sống đều bị ném xuống hồ lửa." (Khải huyền 20:10, 14b-15)
            Sự chết thuộc linh gây nên do sự không vâng lời Đức Chúa Trời, sự chết là hệ quả trực tiếp của tội lỗi "lòng tư dục cưu mang sanh ra tội ác; tội ác đã trọn, sanh ra sự chết." (Gia-cơ 1:15), "Linh hồn nào phạm tội thì sẽ chết." (Ê-xê-chi-ên 18:20), "Tiền công của tội lỗi là sự chết" (Rô-ma 6:23).

II/  Bản chất con người Thờ cúng tổ tiên
            II.1. Chưa được tái sanh
            Con người là loài thọ tạo, đều mang hình ảnh của Đức Chúa Trời. Con người là một thực thể có nhân vị, là một thực thể cơ bản thuộc cá nhân,  nhân vị cũng có thể được gọi là cái tôi của một con người. Nhờ có nhân vị mà một người nhận thức được chính mình và phân biệt giữa mình với người và mọi vật chung quanh. Những hoạt động của con người khác với tất cả các loại máy móc nhờ có nhận thức. Sự ý thức có đặc thù của mỗi cá thể, từ đó những hành động của cá thể họ phải chịu lấy trách nhiệm cho chính mình. Nhờ có nhân vị mà trong toàn thể nhân loại dù có phạm tội vẫn không mất đi hình ảnh của Đức Chúa Trời trong con người. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đòi hỏi án tử hình cho ai mang trọng tội giết người (Sáng 9:5-6). Ngược lại, những người đã phục hòa cùng Chúa bằng sự cứu rỗi có thể tương tác với Ba Ngôi Đức Chúa Trời trong đó có sự thờ phượng.
            "Các nhà nhân loại học nhận xét, thờ phượng là một thôi thúc phổ cập được Thiên Chúa đan quyện chặt chẻ trong bản thể con người chúng ta, đó là một nhu cầu đặt sẵn trong con người để con người có thể thông hiệp với Thiên Chúa. Thờ phượng cũng tự nhiên như ăn uống hay hít thở. Nếu không thờ phượng Thiên Chúa, chúng ta sẽ tìm một cái gì đó để thế chỗ Người, dù cái đó cuối cùng là chính bản thân chúng ta." [4]
            Chúa Giê-xu nói: “Này, Ta đứng bên ngoài cửa mà gõ; nếu ai nghe tiếng Ta mà mở cửa ra, Ta sẽ vào với người ấy...” (Khải 3:20), sự chọn lựa Chúa hay không chọn lựa con đường để theo Chúa mà thờ cúng theo ngoại giáo hay theo tín ngưỡng, đó là quyền cá nhân tự do chọn lựa, không chọn Đức Chúa Trời làm đối tượng để thờ phượng, để sống theo ý muốn của Ngài thì lúc đó con người chưa được tái sanh. Người viết xin trình bày về nguồn gốc việc thờ cúng tổ tiên mà một số đông người Việt nam đang thờ cúng.
            II.2. Nguồn gốc việc thờ cúng tổ tiên
            Người ta không thể xác định được tập tục thờ cúng tổ tiên của người Việt bắt đầu xuất hiện từ lúc nào. Nhưng tục lệ này đã được duy trì, trải qua nhiều thế hệ tiếp nối nhau. Nguồn gốc của Tín ngưỡng Thờ cúng tổ tiên trước hết là đề cập đến chế độ phụ quyền, vai trò của người đàn ông trở nên quan trọng trong họat động kinh tế và sinh họat của gia đình. Con cái mang họ cha và con trai kế tiếp ý thức về uy quyền trong gia đình của mình. Không chỉ chịu ảnh hưởng từ chế độ phụ quyền, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên còn chịu ảnh hưởng từ ba tôn giáo chính ở Việt Nam, đó là:
            - Nho giáo: Theo Khổng Tử, sự sống của con người không phải do tạo hóa sinh ra mà nhờ cha mẹ, sự sống của cha mẹ lại gắn với ông bà và cứ như vậy thế hệ sau kế tiếp thế hệ trước, vì thế mà thế hệ sau phải biết ơn thế hệ trước. Cùng với tư tưởng tôn quân, quyền huynh thế phụ đã củng cố thêm tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở nước ta ngày một thể chế hóa.
            - Đạo giáo: Nếu như Khổng giáo đặt nền tảng lý luận về đạo đức, về trật tự kỷ cương xã hội cho Tín ngưỡng Thờ cúng tổ tiên của người Việt thì Đạo giáo góp phần củng cố niềm tin vào sự tồn tại và năng lực siêu nhiên của linh hồn những người đã chết thông qua một số nghi lễ thờ cúng như: gọi hồn, bùa chú, ma chay, đốt vàng mã...
            - Phật giáo: Phật giáo có ảnh hưởng rất lớn đến sự giữ gìn và phát triển tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở Việt Nam trước hết là quan niệm của Phật giáo về cái chết, kiếp luân hồi và nghiệp báo.
            II.3. Chữ hiếu
        Thờ cúng là thực hành Đạo Hiếu. Trong tục thờ cúng tổ tiên, người Việt coi trọng việc cúng giỗ vào ngày mất. Họ tin rằng đấy là ngày con người qua đời và đi vào cõi vĩnh hằng. Không chỉ ngày giỗ, việc cúng tổ tiên còn được thực hiện đều đặn vào các ngày mùng một, ngày rằm và các dịp lễ tết khác trong năm như: Tết Nguyên Đán, tết Thanh minh…Những khi trong nhà có việc quan trọng như dựng vợ, gả chồng, sinh con, làm nhà, đi xa, thi cử…Đây là một lễ vô cùng quan trọng bởi nhớ đến ông bà tổ tiên là đã thể hiện lòng thành kính với vong linh người đã khuất. Trong mỗi gia đình theo Tín ngưỡng Thờ cúng tổ tiên dần dần trở thành đạo lý uống nước nhớ nguồn, thành “đạo hiếu”. Lòng hiếu thảo là giá trị đạo đức quý báu trong Tín ngưỡng Thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam. Cùng với sự thể hiện đạo hiếu với tổ tiên, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên còn là sợi dây liên kết giữa những con người trong cuộc sống hiện tại. Số đông người Việt Nam quan niệm rằng cha mẹ tổ tiên luôn lo lắng, quan tâm cho con cái ngay cả khi họ đã chết. Người sống chăm lo đến linh hồn người chết, vong hồn người chết sẽ quan tâm đến sự sống của người đang sống.

III/ Ảnh hưởng
            1- Ảnh hưởng cho cá nhân
            a. Đối với Cơ đốc nhân: Nếu chỉ coi lễ nghi đối với tổ tiên là cách bày tỏ lòng hiếu để, tức là thuộc phạm vi luân lý, cũng là ngầm xác định căn bản của luân lý không thể tách rời khỏi niềm tin tôn giáo. Hiểu như thế, việc tôn kính ông bà tổ tiên không những không đối nghịch với Cơ đốc giáo mà còn bộc lộ được tính cách đặc biệt Đông phương và trong đạo hiếu của người Việt nam. Qua hành động tôn kính này hòa hợp với lời dạy của Kinh thánh, con cái phải hiếu thảo với cha mẹ vì Chúa đã dạy như thế theo Điều Răn thứ năm. Tuy nhiên, có sự khác nhau là Kinh thánh dạy phải hiếu với cha mẹ, khi cha mẹ còn sống, khi cha mẹ qua đời thì không phải thờ cúng, kỵ cơm hàng năm. Người qua đời trong Chúa, linh hồn của họ sẽ được ở bên Chúa[P12] .
            b. Đối với người Thờ cúng tổ tiên: Người thờ cúng tổ tiên không quan tâm đến truyền giáo. Lý do có thể kể như: - Tín ngưỡng Thờ cúng tổ tiên không phải là một tôn giáo vì không có giáo lý, tổ chức, cũng như không có giáo chủ nên không ai chủ trương đề xướng, tổ chức điều hành. - Đặc tính hỗn dung của tín ngưỡng Việt nam khiến cho họ nghĩ rằng đạo nào cũng tốt, họ còn chủ động tiếp thu những phù hợp của các đạo khác không cần phải tốn công sức kêu người ta chuyển sang đạo của mình, có khi họ cũng không tin mấy nơi thần của mình.! - Đặc tính cục bộ của các thần: Mỗi Thần có công dụng riêng, nên nếu có thể thì thờ càng nhiều càng tốt (hỗn dung), ví dụ, Ông Địa thì có chức năng mang lại lợi lộc vật chất, nếu cần biết tương lai hậu vận thì đến các đền miếu có xin xăm bói quẻ, nếu chữa bệnh thì đến Phật Dược Sư, nếu cần con cái thì đến miếu Bà Chúa Thai Sinh...- Một lý do khác khiến cho tín ngưỡng Việt nam không cần truyền giáo là vì nó vốn đã ăn sâu vào máu thịt của người Việt nam, đã là một phần trong bản sắc văn hóa Việt nam, nên khuynh hướng tự nhiên của người Việt nam là hướng về những tín ngưỡng đó. Chúa Giê-xu đã dạy: "Nếu các ngươi thuộc về thế gian, thì người đời sẽ yêu kẻ thuộc về mình; nhưng vì các ngươi không thuộc về thế gian và Ta đã lựa chọn các ngươi giữa thế gian, bởi cớ đó người đời ghét các ngươi" (Giăng 15:19). Các tín ngưỡng thuộc về thế gian nên thế gian tự nhiên hướng về đó, và họ không cần phải khổ công truyền giáo nữa làm gì. - Còn một lý do quan trọng nữa là không có tính cấp bách. Nếu đi sâu vào tư tưởng giáo lý thì thấy Tín ngưỡng Thờ cúng tổ tiên chỉ nhắm vào đời này, ai cần gì thì đến với các thần phụ trách lĩnh vực đó, sau khi chết thì hoặc là biến mất hoặc là về một cõi nào đó của linh hồn hoặc là đầu thai nên không đặt vấn đề cứu rỗi. Chính vì thế Chúa Giê-xu đã phán: "Chớ tưởng rằng Ta đến để đem sự bình an cho thế gian; Ta đến, không phải đem sự bình an, mà là đem gươm giáo" (Ma-thi-ơ 10:34). Sự bình an Chúa nói ở đây là cái bình an giả tạo của con người , họ cứ tưởng là không có vấn đề gì, không biết sự đóan phạt sắp đến. Chúa đến đem gươm giáo để cắt đứt sự ỷ lại đó, cho họ thức tỉnh và thấy rõ tình trạng thuộc linh của mình. Trong các tôn giáo trên thế giới này chỉ có Tin lành là ý thức sự cấp bách của sự cứu rỗi và đó là một trong những động cơ chính của việc truyền giảng Tin lành. Nếu không tin Chúa đời này thì con người sẽ chết đời đời chớ không có cơ hội thứ hai, thứ ba, như là quan niệm đầu thai nhiều kiếp (luân hồi).

            2 - Ảnh hưởng cho xã hội
            a. Đối với Cơ đốc nhân: Cơ đốc giáo là một tôn giáo, vì trong tôn giáo không có khái niệm quốc gia, không có biên giới. Mục tiêu của tôn giáo là phần đời sau cái chết thuộc thể, tôn giáo hoạt động có tổ chức, có hệ thống chặt chẽ. Có trường lớp đào tạo cơ bản, có nơi chốn thờ phượng. Tôn giáo hoạt động trên lãnh vực tâm linh, với đức tin là chính. Đối tượng để thờ của mỗi tôn giáo khác nhau, đối tượng thờ phượng của Cơ đốc giáo là Đức Chúa Trời. Hậu quả của việc lầm lẫn xem Tín ngưỡng Thờ cúng tổ tiên gần như một tôn giáo đã đưa tâm trí người Việt tiến dần đến ảo tưởng: Tổ tiên có quyền lực trừng phạt hay độ trì cho con cháu. [P13] Trong Cơ đốc giáo có lời hứa của Đức Chúa Trời, "Hễ ai tin con ấy thì được sự sống đời đời" (Gi 3:16), Lời của Chúa Giê-xu trước khi về trời được Kinh thánh ghi lại, đây cũng là mạng lệnh cho sự truyền giáo của Cơ đốc giáo qua Cơ đốc nhân (Mat 28:19-20)
            b. Đối với người Thờ cúng tổ tiên: Tín ngưỡng Thờ cúng tổ tiên thể hiện được tính nhân văn, những người đã khuất không bị lãng quên trong tâm tưởng của những người thân còn lại, thể hiện tính đạo đức trong bản chất làm người. Thờ cúng tổ tiên của người Việt vừa là vô thức, vừa là tiềm thức và ý thức của mỗi cá nhân và cả cộng đồng, đó không phải là một tín ngưỡng hay một đạo lý bị áp đặt. Bản chất thờ cúng là một nét văn hóa tâm linh vừa mang tính bản địa vừa mang tính nhân loại di truyền từ đời này sang đời khác. Việc thờ cúng tổ tiên có thể coi như một thứ "gen" văn hóa tinh thần của người Việt. Với quan niệm “trần sao âm vậy” vì thế mà nhiều người đã suy bụng ta ra bụng thần, áp đặt cách ứng xử nhuốm màu tiêu cực. Hậu quả nguy hại nhất là làm gia tăng tình trạng mê tín dị đoan, phủ nhận khoa học, coi thường lao động, sự trung thực và những giá trị chân chính của cuộc sống. Huyễn hoặc khi tin rằng tổ tiên đã chết có quyền lực che chở phù hộ cho con cháu. Những mâm cao cỗ đầy cũng gây nhiều khó khăn là hao phí tiền của, công sức của con cháu. Vì trong thực tế hiện nay, ai ai cũng đều hiểu người chết không thể về ăn những mâm cỗ cúng của con cháu. Làm giỗ cũng có khi chỉ là để trả nợ miệng cho những người đang còn sống và cũng để không bị miệng đời đàm tiếu cho rằng con cháu bất hiếu để cho ông bà tổ tiên phải đói lạnh! Việc cúng giỗ, đôi khi khơi dậy bản chất tội lỗi của con người do phát sinh thêm những sự việc ngoài ý muốn như: Uống rượu say sưa có khi sinh ra ra cải vã làm mất hòa khí, hay mất tự chủ đi đến việc đánh nhau, chém  nhau... sinh ra án mạng. Trải qua nhiều thế hệ, tập tục thờ cúng tổ tiên được hệ thống hóa dần dần và xem tập tục này gần như là một tôn giáo. Bất cứ người Việt nào, nếu không có tôn giáo nào khác, khi được hỏi đến thường cho rằng mình theo đạo thờ cúng ông bà!
            Yếu tố tôn giáo là niềm tin cho rằng ông bà đã chết có thể trở về phù hộ cho con cháu và thụ hưởng bằng một cách nào đó những của cúng mà con cháu dâng lên. Còn yếu tố nhân bản là chữ hiếu, đạo làm người, uống nước nhớ nguồn. Các yếu tố tôn giáo và tín ngưỡng hòa trộn lẫn nhau, tùy theo ảnh hưởng của mỗi yếu tố nhiều ít mà người ta có thể chia tín ngưỡng thờ ông bà làm ba loại chính:
1-
Loại mê tín: Tin ông bà là một dạng thần linh có thể theo dõi phù hộ độ trì cho con cháu hoặc quở phạt con cháu. Theo những người này thì việc thờ ông bà nhắm vào lợi ích cá nhân nhiều hơn là vì chữ hiếu (yếu tố tôn giáo lấn lướt yếu tố nhân bản).
2-
Loại kết hợp với Trời, Phật: Tin Trời, Phật là Đấng cao nhất đáng tôn thờ, còn ông bà là gần gũi nhất, nên việc thờ ông bà vừa nhằm thể hiện chữ hiếu, vừa mong được phù hộ độ trì (yếu tố tôn giáo và nhân bản ngang nhau).
3-
Loại vô thần: không tin thần thánh hay đời sau, thờ ông bà chỉ để bày tỏ chữ hiếu mà thôi (chỉ có yếu tố nhân bản). Ở đây việc thờ ông bà không có ý nghĩa tâm linh mà chỉ mang ý nghĩa văn hoá, nhang đèn chỉ cho có để thêm phần long trọng[P14] .
             Chính theo nghĩa này mà Nhà Nước Việt Nam đề cao và ủng hộ việc thờ cúng tổ tiên và mở rộng ra là thờ Quốc Tổ Hùng Vương. Điều này nếu không hiểu đã vội nói Nhà Nước Việt nam mê tín dị đoan, thật ra họ thờ ông bà chỉ vì yếu tố nhân bản (Chữ hiếu) mà thôi chớ không tin ông bà có thể phù hộ độ trì gì cả. Đối với những người này khi làm chứng về Chúa cho họ, cơ đốc nhân chỉ cần điều chỉnh là khái niệm về chữ hiếu là được.  Người Việt Nam dù theo tôn giáo nào hoặc thậm chí là vô thần, cũng không muốn lìa bỏ tín ngưỡng thờ tổ tiên. Đây là một tín ngưỡng rất quan trọng của người Việt Nam, chính vì thế đã trở ngại rất lớn cho việc truyền bá Cơ Đốc giáo ở Việt Nam.

KẾT LUẬN  
            "Luận điểm của Robinson: Người Hê-bơ-rơ có quan điểm cho con người về bản chất là một thể thống nhất. Họ không có thuật ngữ riêng để phân biệt "xác thịt" với "thân thể" vì họ không phân biệt con người toàn thể nói chung với phương diện thể chất của con người. Sứ đồ Phao lô chấp nhận quan niệm hay cách suy nghĩ của người Hê-bơ-rơ. Cả Tân ước và Cựu ước không dạy bản chất con người là nhị nguyên. Tư tưởng nhị nguyên phân biệt thân với hồn không phải là quan điểm của Kinh thánh... sự dạy dỗ của Kinh thánh về bản chất của con người không loại trừ khả năng cấu tạo phức hợp." [5] 
            Con người đã bị "ấn định phải chết" (Hê-bơ-rơ 9:27). Khoa học hiện đại và các bác sĩ có thể làm nhiều điều để kéo dài cuộc sống. Đời người được dài ra, nhưng điều đó chỉ tạm đình hoãn lại sự chết mà thôi. Chỉ có một giải đáp duy nhất là đến Chúa Cứu Thế Jêsus "Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai nghe lời ta mà tin Đấng đã sai ta, thì được sự sống đời đời và không đến sự phán xét, song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống" (Giăng 5:24). "Dầu khi tôi đi trong trũng bóng chết, tôi sẽ chẳng sợ tai họa nào; vì Chúa ở cùng tôi; Cây trượng và cây gậy của Chúa an ủi tôi." (Thi Thiên 23:4). Những ai nói một cách chân thành rằng: "Đức Giê-hô-va là Đấng chăn giữ tôi" cũng đều có thể nhận lấy cho chính mình lời hứa này: "Dầu khi tôi đi trong trũng bóng chết, tôi sẽ chẳng sợ tai họa nào..."
            Bất chấp các sự khác biệt chủng tộc, đa dạng các cộng đồng ngôn ngữ, các thể chế chính trị thì nhân loại chỉ có một. Mọi cá thể đều xuất phát chung một tổ tiên làm thành một sự đơn nhất, có cùng bản thể vì cùng được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời, con người phạm tội thì hình ảnh của Đức Chúa Trời cũng không bị mất đi. Cho dù người còn sống trong tội lỗi hay đã tiếp nhận Chúa để tội được tha và linh hồn được cứu, Kinh thánh cũng cho biết: "Theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét." (Hê-bơ-rơ 9:27). Sự chết của người công bình là quí báu đối với Đức Chúa Trời "Sự chết của các người thánh là quí báu trước mặt Đức Giê-hô-va" (Thi Thiên 116:15). Sự chết của người gian ác là không làm Chúa vui "Ta chẳng lấy sự kẻ dữ chết làm vui... Các ngươi khá xây bỏ, xây bỏ đường lối xấu của mình" (Ê-xê-chi-ên 33:11). Bản chất con người của cơ đốc nhân và người theo Tín ngưỡng Thờ cúng Tổ tiên đều mang hình ảnh của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, khi đã qua đời thì cơ đốc nhân và người theo Tín ngưỡng Thờ cúng tổ tiên có hai lối rẻ khác nhau, đến ngày Chúa tái lâm thì "Muôn dân nhóm lại trước mặt Ngài, rồi Ngài sẽ chia người này với người khác ra, như kẻ chăn chiên chia chiên với dê ra" (Mat 25:32). Chúa sẽ chọn lựa ra và mỗi nhóm người sẽ có số phận khác nhau tùy theo hành động khi con người còn sống ở thế gian./.
TĐ NGỌC HUỆ - DIỆP LỤC TỐ
Ngày 21/12/2014



[1] Toàn tập, tập 3, tr.11
[2] http://www.triethoc.info/2014/04/con-nguoi-va-ban-chat-cua-con-nguoi.html
[3] Barnabas, dịch ra tiếng Việt, Thần Học Cơ Đốc Thực Hành. Không  NXB, 2001, tr 237.
[4] http://www.conggiaovietnam.net/index.php?m=module2&v=chapter&id=69&ib=51&ict=683
[5] Millard J.Erickson, Thần Học Cơ đốc giáo. Bản Việt ngữ Viện Thần Học Tin lành Việt nam (UUC). NXB Văn Hóa Thông Tin, tr 558.






 [P11]Khá đặc biệt – như con người là một đơn vị kinh tế so với con người được Chúa kêu gọi (vocation – nghề nghiệp).


 [P12]Nên liên hệ với Công Giáo, cũng là một nhánh lớn của Cơ-đốc-giáo (thuộc quan điểm Cơ-đốc).  Họ cho phép một số điều – giỗ, đốt nhan v.v.


 [P13]Niềm tin dường như rằng linh có tác động trên đời sống con người.  Thần cây, sống, núi, thú, v.v.
Khái niệm “tổ tiên ông bà phù hộ cho con cháu” có lẽ đến từ đây.

Tư tưởng thần học về con người theo Kinh Thánh nhấn mạnh – hình ảnh Đức Chúa Trời trong con người – vì vậy liên hệ đến sự sáng tạo, sự sa ngã và sự cứu chuộc.
Trời sinh có phần tương tự với sáng tạo.  Sa ngã và cứu chuộc liên hệ thế nào với con người theo quan điểm thờ cúng ông bà?



 [P14]Phân tích tốt.

Thứ Tư, 17 tháng 12, 2014

Nền tảng của Đức tin_Thảo Luận 1: Bởi Pham  Thứ tư, 7/2/ 2007, 01:13

1-    Dựa trên nền tảng nào chúng ta có thể tin tưởng ngay cả bản văn Tân Ước khiếm khuyết nhất?
                                  
       Kinh thánh Tân Ước được hình thành từ sau khi Chúa Jésus về Trời.
       “Đức tin nơi Kinh Thánh Tân Ước được vững lập khi biết rằng dù là bản văn trong nhóm khiếm khuyết nhất cũng vẫn còn tốt, những chổ khác biệt chỉ là những chi tiết rãi rác. Những khác biệt chính giữa những bản dịch (tiếng Anh)…”(1)
       1-Nền tảng của Đức Tin:    
       Kinh thánh Tân Ước được hình thành từ sau khi Chúa Jésus về Trời.
       Trong Cựu Ước chữ “Đức Tin” xuất hiện không nhiều, nhưng xuất hiện rất nhiều lần trong Kinh Thánh Tân ước. Nghĩa thông dụng nhất của đức tin là: yên tâm tin cậy hay nương dựa vào.
       Đức Tin là điều ắt có, được đặt lên hàng đầu khi đến với Chúa Jésus “ Hể ai tin nhận Đấng ấy sẽ không bị hư mất, mà được sự sống đời đời” (Giăng 3:16b)
      Đức Chúa Jésus là đối tượng cho Cơ Đốc Nhân đặt niềm tin, là chổ nương dựa và tin cậy hoàn toàn.
     Đức Chúa Jésus là nền tảng cho chúng ta tin tưởng ngay cả bản văn Tân Ước khiếm khuyết.
         2 - Giải thích tại sao bản văn Tân Ước khiếm khuyết mà chúng ta lại tin:
        “ Nhưng ấy là bởi Đức Thánh Linh cảm động mà người ta nói bởi Đức Chúa Trời”(1 Phi 1:21).
        Các bản văn Tân Ước đều do các trước giả ký thuật lại lời của Chúa
       Chúa Jésus chưa hề viết chữ nào, mà Ngài chỉ dạy bảo bằng lời (Qua các bài giãng trên núi hay các ẩn dụ trong Phúc âm Mathiơ, Mác…) .
        Ngôn ngữ chính của Chúa Jésus là tiếng A-ram.
        Bản Kinh Thánh hôm nay chúng ta đang đọc là chữ viết của người Việt Nam (Từ lễ Ngũ Tuần, các Cơ Đốc Nhân đã muốn nghe bằng tiếng mẹ đẻ của mình các công việc diệu kỳ của Đức Chúa Trời (Sứ Đồ 2) (2).
      Như vậy phải trải qua mấy ngàn năm và bao nhiêu lần dịch thuật, chuyển ngữ cho nên “Kinh Thánh đã được sao chép rồi tái sao chép, in rồi tái bản ngôn ngữ của Kinh Thánh luôn luôn được cập nhật hóa” (2)
      Năm 1881, Westcott và Hort đã nói “tất cả những cái tương đối không quan trọng được để qua một bên, thì những chữ mà theo ý kiến chúng tôi là đáng nghi ngờ cũng khó có thể lên đến hơn một phần ngàn của toàn bộ Tân Ước.”
     Các khám phá mới đây xác nhận và củng cố thêm lời kết luận của Westcott và Hort : “Kinh Thánh Tân Ước đã được bảo vệ bởi các Tu Sĩ, học giả, bởi những người tuận đạo và Giáo Sĩ, bởi sự chép tay lại rất công phu và bởi sự ấn loát kỷ kưỡng . Những doạn văn quan yếu và biết bao nhiêu bản dịch. Lời của ĐCT được ghi chép bởi các Sứ Đồ đã được bảo tồn cẩn thận và chuyên cần phổ biến khắp nơi trên thế giới.
Mỗi Cơ Đốc Nhân đọc Kinh Thánh với lòng tự tin, biết chắc rằng đó là lời của Đức Chúa Trời.”(1)
Tham khảo
(1) trang 69, (2) trang 64  SGK Thánh Kinh Nhập Môn Viện UCC.
God Bless You
            Phạm

Về: Thảo Luận 1: Nền tảng của Đức tin...
Bởi Huynh - Thứ năm , 8 Tháng hai 2007, 10:33

Chào chị Phạm
Cách trả lời của chị không chỉ đầy đủ mà còn cho cả lớp thấy được một khía cạnh khác của chị về "nền tảng đức tin" dựa trên Kinh Thánh nữa. Cám ơn cách trình bày sâu sắc của chị.
Immanuel,

Về: Thảo Luận 1: Nền tảng của Đức tin...
Bởi Thiên - Thứ năm , 8 Tháng hai 2007, 07:13

 Chị Phạm   đã có những chứng cứ rõ ràng để xác nhận niềm tin vào Kinh Thánh Tân Ước một cách tuyệt đối, dưa trên:
   1)Chúa Jesus là đối tượng của niềm tin tuyệt đối
    2) Tân Ước là những ký thuật từ các sứ đồ ghi chép lại cuộc đời và những lời giảng dạy của trực tiếp của Ngài.
     3)Từ Đức Tin được lặp lại rất nhiều lần trong Tân Ước
     4)Kinh Thánh Tân  ước được hình thành  sau khi Chúa Jesus về trời.
  Tôi đồng ý với chị Phạm điểm thứ 1 & 2 - Còn điểm thứ 3 & 4 đúng, nhưng chứa đủ những yếu tố mang tính thuyết phục căn bản để có thể đặt niền tin tuyệt đối vào KT Tân ước. Có lẽ cần bổ sung thêm phần những "cột mốc" của  thời gian ( niên đại ) của những bản sao hay thủ bản là một trong những bằng cớ vững chắc để đạt niềm tin về tính xác thực của KT Tân Ước.
    Mong đợi được học hỏi thêm từ giáo sư và các bạn !

Về: Thảo Luận 1: Nền tảng của Đức tin...
Bởi Pham - Thứ năm , 8 Tháng hai 2007, 09:59

Chào anh Thiên
Tôi rất cám ơn anh đã có ý kiến cho bài làm. Anh có biết rằng bài làm nầy tôi làm từ lúc khoãng hơn 1g sáng , và hoàn thành khoảng gần 4g sáng giờ VN!!!.
Vì câu hỏi là Dựa trên nền tảng nào chúng ta có thể tin tưởng ngay cả bản văn Tân Ước khiếm khuyết nhất?
Dựa trên nền tảng nào?: Nền tảng đó là "Chúa Jésus", "là đá góc nhà" (Ê-phê-sô 2:20).
Anh ạ! theo tôi nghĩ câu trả lời ngắn gọn như vậy cũng đủ,
- 3) Từ Đức Tin được lặp lại rất nhiều lần trong Tân Ước (Tôi xin ghi thêm một số địa chỉ trong Kinh Thánh có từ đức tin như: Rôma 3:30-31; 14:1-4; - 1Cô 13:13; Hê 11:1; Giacơ 2:14 và ,22,24,26; Ê-phê-sô 2:8; Mat17:19; Tít 1:1; ...)
-  4) Kinh Thánh Tân  ước được hình thành  sau khi Chúa Jesus về trời.  (Câu nầy trong bài trắc nghiệm số 2 môn TKNM)
Anh Thiên ơi, tôi nghĩ đơn giản như trên, cho nên tôi dùng chứng cứ của chứng cứ là tôi đặt niềm tin vào bài học là đúng, cho nên tôi dùng ngay bài học để chứng minh cho lập luận của mình.
Anh nè! anh có sáng kiến "dùng cột mốc thời gian để chứng minh... thì có lẽ anh giúp tôi giải quyết khâu ấy quá "Anh tìm giúp tôi nha", vì tôi bây giờ là phải đi công việc xa rồi (không có chương trình đi Bình Phước nhưng giờ phải đi, nên tuần nầy tôi đã ... tìm không ra thời gian anh ạ, bằng chứng là tôi làm bài nầy trong lúc mọi người đang ngũ.
Vài dòng chia sẻ với anh nhé. Xin Chúa đồng hành cùng anh trong mọi lúc.
Thân mến. Phạm

Về: Thảo Luận 1: Nền tảng của Đức tin...
Bởi Hoang - Thứ bảy , 10 Tháng hai 2007, 10:32

Chào cô Phạm!!
Bài làm của cô thật rõ ràng, Hoang rất đồng ý với cô ở mục 1, là nền tảng đức tin là Chúa Giêxu. Tuy Kinh Thánh có nhiều bản dịch và được sao chép nhiều,  những khác biệt ấy chỉ do sự giải thích và lối hành văn của các dịch giả (TKNM trang 54), nhưng nền tảng đức tin của họ vẫn là Chúa Giêxu.
Cầu Chúa ở cùng cô!!

Về: Thảo Luận 1: Nền tảng của Đức tin...
Bởi Trần - Chủ nhật , 11 Tháng hai 2007, 08:34

Cô Phạm làm bài quá tốt, Hương đồng tình với Cô nền tảng của chúng ta là Kinh Thánh, là Chúa.

Về: Thảo Luận 1: Nền tảng của Đức tin...- Kính Nhờ MS... -
Bởi Pham - Chủ nhật , 11 Tháng hai 2007, 08:44

Chào các bạn Trn - Huỳnh - Hòang
Sau khi NH đọc bài của các bạn cùng chung thảo luận câu 1 NH đút kết lại rằng:
Dựa trên nền tảng nào chúng ta có thể tin tưởng ngay cả bản văn Tân Ước khiếm khuyết nhất?: LÀ: Nói theo nghĩa rộng là cả Kinh Thánh như vậy là có cả Tân Ước)
- Cả Kinh Thánh được sự "soi dẫn", là lời được "Thần cảm" bởi Đức Chúa Trời, có nghĩa không bao giờ sai trật nên chúng ta tin.
- Khiếm Khuyết là do ở con người sao đi, chép lại... chỉ đôi khi có khác nhau về văn chương cách diễn đạt của từng loại ngôn ngữ khác nhau mà thôi. Sự sai số không quá 1/1000!



Thứ Ba, 9 tháng 12, 2014

CẦN KÍCH CẦU TIÊU DÙNG HẠT ĐIỀU TRONG NƯỚC

Hiện nay, điều nhân và các sản phẩm chế biến từ hạt điều của Việt nam được xuất khẩu 40 quốc gia. Trong đó thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt nam là Hoa kỳ, Trung quốc, Hà lan, Canada, Vương quốc Anh, Ấn độ... Điều nhân của Việt nam chiếm 92% thị trường Úc. Nhưng tại nước nhà, người dân Việt nam vẫn chưa quan tâm đến mặt lợi ích khi sử dụng hạt điều làm thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, mà chỉ dùng như là thức ăn chơi.
          Bà Đỗ Thị Ngọc Diệp, Phó chủ tịch Hiệp hội Dinh dưỡng Việt Nam – Chủ tịch Hiệp hội dinh dưỡng TP.HCM – Giám đốc Trung tâm dinh dưỡng TP.HCM cho biết: "hạt điều là loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao. Thành phần dinh dưỡng chính của hạt điều bao gồm protein, lipid, carbohydrate, nhiều chất khoáng quan trọng như phospho, magie, calcium, kali, sắt… Nếu sử dụng với một lượng thích hợp, thay thế cho thực phẩm có nguồn gốc động vật hạt điều có thể góp phần vào việc phòng ngừa các bệnh mãn tính không lây như: tim mạch, đái tháo đường…, đồng thời phục hồi sức khoẻ cho người bệnh."
          Nhân hạt điều là một thực phẩm dạng khô, giàu năng lượng hơn hẳn các thực phẩm khác như ngũ cốc, thịt cá… Tính trên 100 gr, nhân điều cung cấp 550 – 600 kcal, trong khi ngũ cốc chỉ cung cấp 300 – 350 kcal, nhóm thịt cung cấp 150 – 200 kcal. Khoảng 80% lượng chất béo trong nhân hạt điều là chất béo chưa bão hòa, trong đó chủ yếu là axit béo Oleic tốt cho người có rối loạn mỡ máu, bênh tim mạch hay người bệnh đái tháo đường có kèm theo triglyceride máu cao dai dẳng.Với đặc điểm giàu chất đạm, thành phần chất béo không bảo hòa và có chỉ số đường huyết thấp, nhân điều không chỉ là thực phẩm bổ sung cũng như phối hợp với các thực phẩm khác để xây dựng thực đơn, chế biến món ăn cho người đái tháo đường, mà còn hứa hẹn nguồn nguyên liệu cung cấp chất đạm và các chất béo có lợi cho sức khỏe trong việc nghiên cứu và phát triển các thực phẩm chức năng.
          Thông tin trên được phổ biến tại Diễn đàn giá trị điều Việt Nam do Hiệp Hội điều Việt Nam tổ chức vừa qua tại TP.Hồ Chí Minh. Đa số các chuyên gia thị trường trong và ngoài nước, các doanh nghiệp cho biết sản phẩm hạt điều tiêu thụ chậm tại chính nơi nó được sản xuất và xuất khẩu lớn nhất trên thế giới, do hầu hết người dân Việt Nam vẫn chưa hiểu rõ về giá trị của hạt điều. Đề cập đến nguyên nhân người tiêu dùng trong nước vẫn chưa có thói quen dùng sản phẩm được chế biến từ hạt điều, TS Đinh Thị Mỹ Loan – Chủ tịch Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam cho rằng: "Sản phẩm vẫn chưa được quảng bá rộng rãi, chế biến còn đơn điệu, chỉ là điều rang muối, chao dầu, kẹo hoặc bánh có nhân điều. Để kích cầu tiêu dùng, TS. Đinh Thị Mỹ Loan cho rằng: "Các sản phẩm đưa ra bán theo kênh truyền thống hay hiện đại, các nhà sản xuất phải đáp ứng các tiêu chuẩn về nguồn gốc xuất xứ, bao bì mẫu mã cũng như chất lượng hàng hóa bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm và giá cả phải cạnh tranh, phù hợp với mức thu nhập của người dân Việt Nam. Về phương thức bán hàng cần khai thác thêm hình thức trực tuyến ngoài kênh chợ truyền thống và siêu thị, nhằm đáp ứng được yêu cầu hội nhập và kỷ nguyên số. Và ở cấp độ Nhà nước cần phải có chính sách, chiến lược phát triển dài hạn đối với sản phẩm hạt điều.
          Ông Nguyễn Đức Thanh – Chủ tịch Vinacas phát biểu: "Kế hoạch chiến lược của ngành điều sẽ đạt đến mức 10% tiêu thụ trong nước vào năm 2020. Thời gian tới ngành điều sẽ có nhiều hoạt động xúc tiến thương mại trên thị trường nội địa. Các doanh nghiệp cần đa dạng hóa sản phẩm, đa dạng hóa cách tiếp cận người tiêu dùng, phát huy hiệu quả của các kênh phân phối bán lẻ, đưa thông tin về giá trị dinh dưỡng của hạt điều đến với đông đảo người tiêu dùng trong nước và giá cả cần phải phù hợp với người tiêu dùng trong nước."

NGỌC HUỆ - DIỆP LỤC TỐ

Chủ Nhật, 7 tháng 12, 2014


Viện UUC 
Giáo sư: TVK, Ph.D.
Sinh Viên: PNH
Ngày 14/11/2014

DÀN BÀI
Phần I:
Đề tài 2 (Midterm paper: Topic # 2):
            Xin bình luận về giải đáp của tác giả Reddish (xem phía dưới) và trình bày lập trường của bạn về sự soi dẫn cùng suy nghĩ phương pháp khởi đầu nào là đúng cho giáo lý này.
            (Điểm thưởng) Trình bày một quan điểm về giáo lý soi dẫn khác so với của giáo sư Erickson và của tác giả Reddish.


Dẫn nhập
A/ Bình luận về giải đáp của tác giả Reddish
B/ Trình bày lập trường về sự soi dẫn
C/ phương pháp khởi đầu nào là đúng cho giáo lý này.? 
Kết luận
Phần II:
            (Điểm thưởng) Trình bày một quan điểm về giáo lý soi dẫn khác so với của giáo sư Erickson và của tác giả Reddish.
Quan điểm chân chính về sự Thần cảm 
Định nghĩa
Thư mục
CácWebsite

BÀI LÀM

Phần I:
Dẫn nhập

            "Trong Kinh Thánh La-tinh (vulgate), chép động từ inspiro dịch trong Sáng thế ký 2:7 "hà sanh khí vào" II Ti-mô-thê 3:16 "soi dẫn", II Phi-e-rơ 1:21 "cảm động"; và tiếng chỉ tên inspiratio dịch trong II Sa-mu-ên 22:16 "gió", Gióp 32:8 "hơi thở", Thi Thiên 18:15 "gió", và Công vụ các sứ đồ 17:25 "hơi sống". Bởi sự mở mang bảng kê danh từ thần học, chữ nầy được một nghĩa riêng về những người chép Kinh Thánh hoặc chính các sách đó. Các sách Kinh Thánh được gọi là soi dẫn (inspiratio) vì là kết quả nhứt định của Ðức Chúa Trời bởi những người được Ðức Chúa Trời hà hơi. Những người chép Kinh Thánh gọi là được soi dẫn có Ðức Thánh Linh hà hơi vào, nên kết quả các công việc họ vượt quá quyền loài người mà thành ra quyền Chúa."[1]
            Soi dẫn hay hà hơi thường được định nghĩa là một ảnh hưởng siêu nhiên tác động trên hành động của các người chép Kinh Thánh bởi Thần của Ðức Chúa Trời, và những lời chép đó kể là đáng tin cậy vì đến từ Chúa. Kinh Thánh được soi dẫn tức là công việc của Thần của Ðức Chúa Trời trên những người chép các sách Kinh Thánh để họ không chép tự mình song là đến từ Chúa và những lời chép đó Ðức Chúa Trời tỏ cho loài người biết bản thể, ý muốn, công việc cũng như mưu định của Ngài. Qua điều này người viết rất mong mỏi được học thêm để hiểu thêm về Chúa, về ơn thần hựu của Ngài, quyền năng và sự tể trị của Thiên Chúa. Ngài không chỉ là Đấng chí cao, mà cũng là Đấng chí cận, Ngài bày tỏ cho thế gian và từng cá nhân sự cứu rỗi của Ngài nếu đồng ý tiếp nhận sứ điệp của Kinh thánh và sở hữu cho chính mình. Chúa muốn bảo tồn sự khải thị của Ngài  nên cần phải soi dẫn cho các trước giả Kinh thánh dùng lời của con người cũng như chữ viết của con người ghi lại những điều gì nhận từ Chúa một cách không sai lạc. Đây là bài viết giữa khóa môn Thần học Hệ thống I, người viết trình bày theo đề tài gồm những phần sau đây:

A/ Bình luận về giải đáp của tác giả Reddish
            Mitchell Reddish cho rằng một phần khác biệt hiểu biết về sự soi dẫn của Kinh thánh khởi đầu từ cách thức nhìn vấn đề. Thường thì sẽ khởi đầu với Đức Chúa Trời là lẽ thật và không thể sai lầm. Giả thiết "Đức Chúa Trời là lẽ thật và không thể sai lầm" sẽ logic với lập luận theo Tam đoạn luận: Lời thật, của Đức Chúa Trời là lẽ thật, Thánh Linh của Đức Chúa Trời cũng là lẽ thật, cảm thúc (hay hà hơi, hoặc soi dẫn) cho người viết viết những lẽ thật theo sự dẫn dắt của Chúa nên Kinh thánh là viết Lời của lẽ thật, từ đó Kinh thánh là Lời của Chúa. Nếu Kinh Thánh được Đức Chúa Trời soi dẫn, thì Kinh Thánh sẽ dự vào bản chất của Ngài, là lẽ thật sẽ dẫn đến điều đúng và không sai lầm. Một Đức Chúa Trời toàn vẹn không thể tạo ra một Kinh thánh không trọn vẹn. Theo hiểu biết này, sự linh cảm bảo đảm rằng mọi dữ kiện sẽ không sai lầm – dù lịch sử, khoa học, điạ lý hay thần học. Trong quan điểm này thì có thuyết rằng Đức Chúa Trời đọc mỗi lời cho tác giả (con người) viết và họ chỉ thuần túy là người ghi chép. Reddish cho rằng quan điểm sự soi dẫn cho từng lời (verbal plenary) có hai lầm lẫn quan trọng: 
            * Thứ nhất, khi đọc Kinh thánh với sự phê bình (critical) cho thấy, Kinh thánh không hoàn toàn thoát khỏi sai lầm về lịch sử, điạ lý và khoa học. Nếu chỉ có nguyên bản là được soi dẫn, chứ không phải Kinh thánh trong dạng hiện tại, thì giáo lý soi dẫn không có hữu ích cho Cơ-đốc-nhân hôm nay.
            * Thứ nhì, với quan điểm soi dẫn cho từng lời là đặt trọng tâm (locus) của sự hà hơi ở nơi những người viết Kinh thánh. Nhiều tác phẩm Kinh thánh là sản phẩm của tiến trình dài bao gồm nhiều nguồn, nhiều chủ bút, và nhiều số bản của công trình. Kinh thánh, trong nhiều trường hợp, là sản phẩm của tập thể hơn là công trình của cá nhân tác giả. Thuyết thẩm quyền dựa trên đọc cho viết xuống (dictation) thất bại vì nó không được ủng hộ bởi chính bằng chứng từ Kinh thánh.
            Thật ra, giáo lý về sự soi dẫn không phải do các nhà thần học áp đặt cho Kinh thánh, mà trái lại, đây là sự dạy dỗ của chính Kinh thánh "...Cả Kinh thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn..." (2Tim 3:16). Một kết luận ra từ dữ liệu trong Kinh thánh, cũng giống như mọi nhân chứng khác Kinh thánh làm chứng cho chính mình, Khải 22:19, tóm tắt những lời Kinh Thánh chép về sự soi dẫn như sau: * Những người chép Kinh Thánh, khi nào nói đến, xưng rằng mình chép bởi quyền trực tiếp của Chúa. * Dẫn chứng rằng có cả những lời không phải chỉ những ý thôi, đều được soi (I Cô-rinh-tô 2:7-15). * Cả thái độ của Chúa Jêsus Christ đối với Cựu Ước, như lời Ngài phán tỏ ra, cả lúc trước khi chết và sau sự sống lại, chứng quyết lẽ thật và căn nguyên Cựu Ước là bởi Chúa, và Ngài chỉ rõ Ngũ Kinh thật thuộc Môi-se. * Khi hứa sẽ tỏ ra nhiều điều sau khi Ðức Thánh Linh đến (Giăng 16:12-15), Chúa dọn đường cho Tân Ước. * Những người chép Tân Ước vẫn coi Cựu Ước như có quyền và soi dẫn bởi Chúa.
            Reddish cho rằng cách giải đáp câu hỏi về soi dẫn là quy nạp (inductive), vì nên để cho bằng chứng của Kinh thánh định đoạt cái dạng và nội dung của giáo lý. Thật vậy, xưng nhận rằng Kinh thánh được soi dẫn là xác nhận rằng qua những tác phẩm này, con người đã gặp Đức Chúa Trời, Đấng bày tỏ chính Ngài cho dân sự và cộng đồng đã tạo ra các kinh thánh.
            Vế thứ hai của 2Tim 3:16 "...Có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị dạy người trong sự công bình". Lợi ích của Kinh thánh cốt ở trong sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, phục hồi, huấn luyện trong sự công chính, hầu cho tín hữu có kim chỉ nam của chiếc la bàn chỉ phương hướng đi cho đúng với những điều Kinh thánh dạy. Để có được khả năng, thành thạo, được trang bị hoàn hảo trong mọi lãnh vực để làm nên nhân cách hay bản thể của người ấy. Kinh thánh không phải để trưng bày mà Kinh thánh là Lời của Chúa là Đấng sống nên Kinh thánh thánh phải được dùng trong cuộc sống. Toàn câu Kinh thánh 2Tim 3:16 là lời chứng trong Kinh thánh dạy toàn thể Kinh thánh đã đến từ Đức Chúa Trời để chỉ cho con người cách sống theo ý Chúa.

B/ Trình bày lập trường của bạn về sự soi dẫn
            "Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình, hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắn sẵn để làm mọi việc lành" (II Tim 3:16-17).

            Bởi Đức Thánh Linh cảm động mà người ta đã nói bởi Đức Chúa Trời. Sứ đồ Phao-lô xác định "Cả Kinh Thánh đều bởi Đức Chúa Trời soi dẫn..." (II Ti-mô-thê 3:16).  Như vậy, Đức Thánh Linh soi sáng, dẫn dắt để các trước giả viết một cách chính xác, vô ngộ sứ điệp Đức Chúa Trời ban cho họ, hầu truyền lại cho loài người.
            Một trong những bằng cớ chính xác chứng minh Kinh Thánh được soi dẫn là các lời tiên tri. Các lời tiên tri trong Cựu Ước về Chúa Giê-xu đã được ứng nghiệm trọn vẹn trong Tân Ước. Nhất là bốn sách Phúc Âm và sách Công Vụ Các Sứ Đồ luôn luôn lặp lại những chữ "để được ứng nghiệm lời tiên tri." Như Chúa Giê-xu giáng sinh bởi một nữ đồng trinh (Ma-la-chi 1:22-23), tại thành phố Bết-lê-hem nước Do Thái (Ma-la-chi 2:1-6). Lánh nạn qua Ê-díp-tô (Ma-la-chi 2:13-15), Chúa về Na-xa-rét (Ma-thi-ơ 2:13-15). Giăng Báp-tít dọn đường cho Ngài (Ma-thi-ơ 3:1-3), Chúa bắt đầu chức vụ (Ma-thi-ơ 4:12-16), chữa lành mọi tật bệnh (Ma-thi-ơ 8:17), giảng dạy một cách có quyền năng (Ma-thi-ơ 12:17-21; 13:14-15,35; 15:7-8). Vào thành Giê-ru-sa-lem (Ma-thi-ơ 21:4-5), Chúa bị phản bội (Giăng 13:18), bị bán với giá 30 miếng bạc (Ma-thi-ơ 7:9-10), chịu chết (Giăng 19:25,36-37) sống lại (CV 2:24-28), thăng thiên (CV 2:32-35).
            Bằng chứng sống động là kinh nghiệm của tín hữu trải qua mọi thời đại cho đến ngày nay. Hễ ai vâng theo lời Kinh Thánh mà ăn năn tội, tin nhận Chúa Giê-xu thì tội được tha linh hồn được cứu, được thánh hóa, được sự sống mới, có một đời mới. Mọi lời hứa của Chúa trong Kinh Thánh được ứng nghiệm cho họ, khiến họ giống "như cây trồng gần dòng nước, sinh bông trái theo thì tiết, lá nó cũng chẳng tàn héo" (Thi-thiên 1:2-3) hay giống "như cây trồng nơi bờ suối, đâm rễ theo dòng nước chảy, ngộ khi trời nắng chẳng hề sợ hãi, mà lá cứ xanh tươi, gặp năm hạn hán cũng chẳng lo gì mà cứ ra trái không dứt" (Giê-rê-mi 17:7-8). Kinh thánh ghi lại Lời Chúa, Ngài soi dẫn, giúp con cái Chúa sống kết quả, sung mãn mỗi ngày.
            Hiện nay 2Tim 3:16 "Cả Kinh thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn. Có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bằng" vẫn còn giá trị tin tưởng tuyệt đối. Điều này cũng cho thấy Đức Chúa Trời yêu ai thì Ngài yêu đến cuối cùng, Đức Chúa Trời là thành tín, Ngài luôn luôn giữ lời hứa của Ngài (Minh họa, Kinh thánh cho thấy sự ứng nghiệm qua lời của các tiên tri của Chúa, cụ thể là sự Giáng sinh của Chúa Jésus...). Chứng minh rằng sự soi dẫn của Chúa cho trước giả viết Kinh thánh, sự hà hơi biến những Lời thánh, ơn thần hựu của Chúa giữ gìn những Lời sống giúp cho những người được thánh hóa hiểu được những ý định của Ngài từ khi Kinh thánh được viết xuống cho đến hôm nay vẫn còn như ngày đầu, dù rằng Kinh thánh đã được dịch ra nhiều ngôn ngữ khác nhau, tái bản nhiều lần nhờ vào ơn thần hựu của Chúa bảo tồn Lời của Ngài.
           
C/ phương pháp khởi đầu nào là đúng cho giáo lý này.
            Mitchell Reddish cho rằng một phần khác biệt hiểu biết về sự soi dẫn của Kinh thánh là khởi đầu từ cách thức nhìn vấn đề. Thường thì sẽ khởi đầu với Đức Chúa Trời là lẽ thật và không thể sai lầm. Giả thiết "Đức Chúa Trời là lẽ thật và không thể sai lầm". Bằng phương pháp qui nạp với giả thiết "Đức Chúa Trời là lẽ thật và không thể sai lầm". Là phù hợp theo bằng chứng lập luận từ Kinh thánh đã tự biện minh qua câu Kinh thánh 1Ti-mô-thê 3:16, 17. Tuy nhiên, Kinh thánh cũng ghi lại những lời nói dối của Sa-tan (Sáng 3:4-5), nhưng Kinh thánh ghi thật chính xác. Kinh thánh cũng có một số câu trích của người chưa được cứu (Tít 1:12)...Nhưng sự đa dạng này được ghi lại thật rỏ ràng.
            "Dầu nhiều người theo nhiều quan điểm thần học khác nhau sẽ sẳn sàng nói Kinh thánh được soi dẫn (hay còn gọi là sự linh cảm, sự hà hơi), nhưng người ta thấy ít có sự đồng nhất về điều được gọi là sự soi dẫn, có người tập trung sự soi dẫn vào cho những trước giả; người khác tập trung vào các tác phẩm; lại có người khác qui cho người đọc. Có người liên hệ sự soi dẫn với sứ điệp tổng quát của Kinh thánh; một số khác thì liên hệ với các tư tưởng, lại có người khác nữa liên hệ đến những từ ngữ. Một số khác bao gồm cả tính không sai lầm, nhiều người khác lại không tin như vậy."[2]
            Thật sự, chúng ta cần Đức Chúa Trời hướng dẫn suốt đời, từ thuở thanh xuân cho đến lúc bạc đầu. Người viết Thi-thiên nói: “Đức Chúa Trời nầy là Đức Chúa Trời chúng tôi đến đời đời vô-cùng; Ngài sẽ dẫn chúng tôi cho đến kỳ chết” (Thi 48:14). Giống như người viết Thi-thiên, tín đồ Đấng Christ khôn ngoan không ngừng trông cậy nơi Đức Chúa Trời để được Ngài hướng dẫn.[3]
           
            KẾT LUẬN
            "Lòng khiêm nhường là đất mầu mỡ, là nơi phát triển phần thuộc linh và sinh ra trái của sự soi dẫn để biết phải làm điều gì. Lòng khiêm nhường cho phép tiếp cận với quyền năng thiêng liêng để hoàn thành điều cần phải được làm. Một người bị thúc đẩy bởi ước muốn được khen ngợi hay thừa nhận thì sẽ không hội đủ điều kiện để được Thánh Linh giảng dạy. Một người ngạo mạn hoặc để cho cảm xúc ảnh hưởng đến quyết định của mình thì sẽ không được Thánh Linh hướng dẫn một cách mạnh mẽ."[4]
            Phi-e-rơ cũng viết trong bức thư của ông và nói rằng, “Vì chẳng hề có lời tiên tri nào là bởi ý một người nào mà ra, nhưng ấy là bởi Đức Thánh Linh cảm động mà người ta đã nói bởi Đức Chúa Trời.” (II Phi-e-rơ 1:21). Đó là điều rất quan hệ để thấy rằng những tác giả viết Kinh thánh đều được cảm động bởi Thánh Linh của Đức Chúa Trời. Không những tư tưởng được soi dẫn, nhưng mỗi lời cũng được soi dẫn.[5]
            Kinh thánh như là kim chỉ nam trong chiếc la bàn, chỉ cho người ta đi đúng hướng, theo những lời dạy trong Kinh thánh. Nhưng phải có lòng mềm mại, khiêm nhường để nhận lãnh và làm theo. Tất cả những gì Kinh thánh được soi dẫn để viết một điều, đó là Đấng Christ. Mục đích tối hậu của sự soi dẫn là Nhưng các việc nầy đã chép, để cho các ngươi tin rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, tức là Con Đức Chúa Trời, và để khi các ngươi tin, thì nhờ danh Ngài mà được sự sống. (Giăng 20:31)
            Phần II:
            (Điểm thưởng) Trình bày một quan điểm về giáo lý soi dẫn khác so với của giáo sư Erickson và của tác giả Reddish.
            Quan điểm chân chính về sự Thần cảm  [6]
            Định nghĩa: Sự thần cảm thiên thượng là sự làm việc của Đức Thánh Linh, để qua đó Ngài ban năng lực cho người nhất định nào đó nhận được sự khải thị từ nơi Đức Chúa Trời. Nhằm để nói hoặc viết ra qua ngôn ngữ và sắc thái riêng của họ, chính những Lời của Đức Chúa Trời mà không hề sai sót (2 Phi 1:21).
            Sự thần cảm nguyên vẹn: Hàm ý rằng mỗi phần trong 66 sách hợp tuyển thành Kinh thánh đều là công trình của sự thần cảm thiên thượng ở cùng một mức độ (2 Tim 3:16).
            Sự thần cảm từng lời: Hàm ý rằng sự thần cảm thiên thượng chạm đến từng lời trong Kinh thánh cho đến tận hình thái và chức năng ngữ pháp của nó (Ga-la-ti 3:16).
            Nhận xét:
            1/ Chỉ liên hệ với nguyên tác Kinh thánh, sự thần cảm thiên thượng chỉ liên quan với sự bày tỏ nguyên thủy và văn bản nguyên thủy của người phát ngôn và trước giả của Đức Chúa Trời. Các bản sao và bản dịch của nguyên bản Kinh thánh có thể có sai sót.
            2/ Sự thần cảm thiên thượng chỉ liên quan đến người phát ngôn của Đức Chúa Trời khi họ nói hoặc viết Lời của Ngài dưới tác động của Đức Thánh Linh. Sự thần cảm thiên thượng không liên quan đến các hành vi khác và các lời lẽ khác của họ trong cuộc sống (2Sa 7:3).
            3/ Dưới sự thần cảm thiên thượng, người nói và viết Lời Đức Chúa Trời được gìn giữ chẳng những khỏi các sự sai trật trong sự truyền đạt mà còn khỏi các sự thiếu sót nữa. Sự bày tỏ và các tác phẩm của họ là chính xác trong các giới hạn xác định một cách thiêng liêng. Họ cũng không nói hoặc viết quá những gì Đức Chúa Trời đã ấn định cho họ thực hiện.
            4/ Dầu Đức Chúa Trời không tỏ sự ưng thuận từng việc, từng lời của thiên sứ hay con người đã được ghi chép trong Kinh thánh, sự thần cảm thiên thượng vẫn bảo đảm cho các ký thuật hoặc hành vi và lời nói ấy (Sáng 3:4).
            5/ Dầu chúng ta không hiểu được thế nào và thế nào mà Đức Thánh Linh đã dùng những con người có thể sai lầm để thực hiện các ký thuật không thể sai lầm, điều đó cũng chưa đủ cho chúng ta kết luận rằng Ngài đã không làm như vậy. Có lẽ chúng ta chưa bao giờ hiểu được về Ngài một cách trọn vẹn trên bất cứ vấn đề nào.
            6/ Vì cớ sự đầy đủ của Kinh thánh cho niềm tin và phẩm hạnh của chứng ta và thể theo sự bày tỏ của Châm 30:5-6; 1Cô 13:8; và Khải 22:18-19, tôi tin rằng chẳng hề có sự khải thị đặc biệt nào khác được ban cho kể từ khi kết thúc kinh điển Tân Ước vào cuối thế kỷ thứ nhát.
            7/ Kinh thánh bày tỏ rằng mọi sự bày tỏ đặc biệt từ thiên thượng có nguồn gốc từ Đức Chúa Cha (Khải 1:1), được chuyển giao sang người đại diện là Đức Chúa Con (Gi 1:1), và được mặc lấy ngôn ngữ loài người bởi sự làm việc của Đức Thánh Linh trên con người (1 Cô 2:13; 2 Phi 1:21) là người phát ngôn của Đức Chúa Trời (Phục 18:18).
            8/ Đức Chúa Trời ít khi truyền phán qua người chưa được cứu (2 Sử 35:21-22; Gi11:49-51).
           
Thư mục:
1/ Barnabas, Dịch ra tiếng Việt Thần Học Cơ Đốc Thực Hành. Nguyên tác Kregel Publications và GS.TS. Floyd H.Barackman. Practical Christan Theology.  Năm 2011
2/ Kinh thánh
3/ Sách Giáo Khoa
Các Website:
[1] http://www.thuvien.eu/book/kt/Toan_Bo/TDKT_1222.html
2 https://sites.google.com/site/codocnhandn/kinh-thanh/than-hoc-can-ban/giao-ly-cua-kt-ve-su-soi-dan
3 http://wol.jw.org/vi/wol/d/r47/lp-vt/2008282
4 https://www.lds.org/general-conference/2012/04/how-to-obtain-revelation-and-inspiration-for-your-personal-life?lang=vie
5 http://httlgiadinh.org/Tin-Tuc/Gia-Dinh/227/Tim_Hieu_Kinh_Thanh_-_Bai_3_-_Su_Khai_Thi_Su_Soi_Dan_Su_Soi_Sang.aspx




[1] http://www.thuvien.eu/book/kt/Toan_Bo/TDKT_1222.html

[2] https://sites.google.com/site/codocnhandn/kinh-thanh/than-hoc-can-ban/giao-ly-cua-kt-ve-su-soi-dan
[3] http://wol.jw.org/vi/wol/d/r47/lp-vt/2008282
[4] https://www.lds.org/general-conference/2012/04/how-to-obtain-revelation-and-inspiration-for-your-personal-life?lang=vie
[5] http://httlgiadinh.org/Tin-Tuc/Gia-Dinh/227/Tim_Hieu_Kinh_Thanh_-_Bai_3_-_Su_Khai_Thi_Su_Soi_Dan_Su_Soi_Sang.aspx
[6] Barnabas, Dịch ra tiếng Việt Thần Học Cơ Đốc Thực Hành. Nguyên tác Kregel Publications và GS.TS. Floyd H.Barackman. Practical Christan Theology.  Năm 2011. Tr 15-16