Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghiên cứu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghiên cứu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 10 tháng 8, 2020

DẠY CHO TRẺ THƠ CON ĐƯỜNG NÓ PHẢI THEO

 “Hãy dạy cho trẻ thơ con đường nó phải theo, dù khi nó trở về già cũng không hề lìa khỏi đó” (Châm Ngôn 22:6). Động từ “dạy”, chỉ sự hướng dẫn đầu tiên mà người làm cha, mẹ cung cấp cho con cái của mình. Sự huấn luyện được vạch rõ ràng cho chúng cách cư xử trong cuộc sống mà chúng được chuẩn bị như sự lễ phép, trung tín, nhẫn nhịn... Bắt đầu giáo dục sớm cho con cái là một việc làm hết sức cần thiết và đó là thể hiện trách nhiệm của bậc làm cha, mẹ trong việc phát triển nhân cách của con mình.

          Gương mẫu của cha mẹ đối với con cái

          Thầy Mạnh Tử thuở nhỏ nhà ở gần nghĩa trang, thấy người ta đào huyệt, chôn, lăn khóc. Về nhà cũng bắt chước đào, chôn, lăn khóc. Bà mẹ thấy thế nói: Chỗ nầy không phải chỗ con ta ở được. Rồi dọn nhà ra gần chợ, thấy người buôn bán giành mối nhau, chửi bới nhau, về nhà cũng bắt chước cách nói năng thô tục. Bà mẹ thấy thế lại nói: Chỗ nầy cũng không phải chỗ con ta ở được. Bèn dọn nhà đến ở cạnh trường học. Thầy Mạnh Tử ở gần trường học, thấy trẻ đua nhau học tập lễ phép, cắp sách vở, về nhà cũng bắt chước học tập lễ phép, cắp sách vở. Bấy giờ bà mẹ mới vui lòng nói: Chỗ nầy là chỗ con ta ở được.

          Một hôm, thầy Mạnh Tử thấy nhà láng giềng giết lợn, về hỏi mẹ: Người ta giết lợn làm gì thế?.  Bà mẹ nói đùa: Để cho con ăn đấy. Nói xong, bà nghĩ lại, hối rằng: Ta nói lỡ lời rồi. Con ta thơ ấu, trí thức mới mở mang mà ta nói dối hay sao? Rồi bà đi mua thịt lợn, đem về cho con thật. Lại một hôm thầy Mạnh Tử đang học, bỏ học về nhà chơi. Bà mẹ đang ngồi dệt cưởi; trông thấy, liền cầm dao cắt đứt tấm vải đang dệt trên khung, mà nói rằng: Con đang đi học, mà bỏ học, thì cũng giống mẹ đang dệt tấm vải nầy mà cắt đứt đi vậy. Từ hôm đó, thầy Mạnh Tử học tập rất chuyên cần. Rồi sau thành một bậc đại hiền, thế chẳng là nhờ có cái công giáo dục quý báo của mẹ hay sao?

          Dạy con biết lễ phép

         

Lễ phép là phẩm chất cần có trong mối quan hệ giao tiếp, giúp giảm những mâu thuẫn và tạo mối quan hệ hài hòa giữa người với người. Theo chuyên gia giáo dục Ngô Hải Khê: Thời kỳ trẻ từ 0 đến 6 tuổi được coi là thời kỳ nhạy cảm nhất, thời kỳ phát triển nhanh nhất của trẻ do não bộ phát triển mạnh, nên trẻ học hỏi và tiếp thu rất nhanh vì vậy, trách nhiệm của cha mẹ là phải tạo môi trường phù hợp để trẻ được phát triển toàn diện.

          Có một số cha, mẹ tỏ ra bàng quan với tính tình của trẻ, họ cho rằng một số thái độ, lời nói vô lễ là sự tự nhiên, con còn nhỏ nên chưa biết gì, khi lớn lên sẽ khác đi. Thực chất, trẻ rất cần bồi dưỡng, rèn luyện tính tình từ khi còn thơ ấu. Lễ phép cũng là khởi đầu việc trẻ học làm người, là một trong những tố chất cơ bản giúp trẻ đạt được thành công trong công việc khi trẻ lớn lên.

Trong cuộc sống, các bậc cha mẹ thiếu đi các yếu tố sau thì không thể nào dạy con trẻ thành công được đó là: Yêu thương, Kiên nhẫn, Trò chuyện và Khen ngợi. Những điều đó cha mẹ nào cũng có thể cho con cái mình, có khác chăng là cách mà mỗi cha mẹ làm mà thôi. Từ 0-3 tuổi là giai đoạn mà tất cả những gì trẻ được tiếp nhận, được dạy sẽ được lưu giữ và hấp thụ hoàn toàn trong ý thức của não, thời kỳ này không một ai có thể thay thế được vị trí và vai trò của người mẹ. Từ 3 – 6 tuổi kỹ năng tư duy của trẻ được phát triển. Một triết gia phương Tây nói rằng: “Thành phần xuất thân ảnh hưởng đến quá trình phát triển nhân cách.” Cho thấy rằng môi trường giáo dục trẻ cũng cần được chú ý đến.

          Luôn gần gũi con trẻ

Từ 4 – 6 tuổi, hãy tập cho trẻ giúp việc lặt vặt trong nhà, đây cũng là một cách giúp trẻ vận động và luyện kỹ năng cầm nắm, xử lý đồ vật. Thường xuyên khen ngợi mỗi khi trẻ giúp mình làm việc. Cũng có nhiều bà mẹ không để cho trẻ làm, vì nghĩ trẻ con còn nhỏ chưa biết gì, nên để trẻ chơi một mình hay giao trẻ làm bạn với điện thoại, các game vô cảm, còn mình thì bận rộn! Đây là, suy nghĩ sai lầm vì đã làm lỡ dịp dạy trẻ luyện kỹ năng làm việc, tuy nhiên, công việc phải phù hợp cho trẻ. Mẹ cùng bé làm việc mang lại lợi ích là vừa giúp mình giảm gánh nặng, tâm tình mẹ con gần gủi hơn và là một cách dạy trẻ học tập trực tiếp-cầm tay chỉ việc, kịp thời chấn chỉnh những sự sai sót. Qua việc tiếp xúc thường xuyên với con những kỹ năng được phát triển tốt như: khả năng sử dụng ngôn ngữ sẽ được rèn luyện, diễn đạt chính xác cảm xúc của mình, giao tiếp, ứng phó tình huống, giúp trẻ hướng thiện, biết yêu thương, đặc biệt là trẻ biết cư xử lễ phép….

Hãy để trẻ quyết định mọi việc liên quan đến bản thân như ăn gì, mặc gì. Trẻ có làm gì sai hay thất bại thì cũng không nên la mắng mà nên dùng lời dễ hiểu phân tích, khuyến khích cho trẻ làm lại và cũng hãy tích cực trả lời những câu hỏi của con. Dạy cho con trẻ con đường nó phải theo là một đề tài mà từ xưa đến nay các bậc làm cho mẹ không hề xao lãng. Trẻ con không phải là một người lớn thu nhỏ, tục ngữ Việt Nam có câu: “Dạy con từ thuở còn thơ”, vai trò giáo dục này quan trọng đến nỗi thiếu sót thì khó lòng bổ khuyết được.

NGỌC HUỆ - DIỆP LỤC TỐ


 

Thứ Năm, 25 tháng 6, 2020

ĐỨC CHÚA GIÊ-SU ĐẾN THẾ GIAN ĐỂ CỨU CHUỘC NHÂN LOẠI

KINH THÁNH: Đức Chúa Giê-su Christ Đấng cứu chuộc nhân loại, qua sự chết của Ngài trên thập tự giá đây là công việc mà chính Ngài đã công bố: “Mọi việc đã được trọn; rồi Ngài gục đầu mà trút linh hồn” Giăng 19:30. Mặt khác Kinh Thánh Lu-ca 4:43 chép rằng “Ta cũng phải rao Tin Lành của nước Đức Chúa Trời nơi các thành khác; Vì cốt tại việc đó mà Ta đã được sai đến” (Lu-ca 4:43).
GS. PHẠM NGỌC HUỆ

DẪN NHẬP

“Ta cũng phải rao Tin Lành của nước Đức Chúa Trời nơi các thành khác; vì cốt tại việc đó mà Ta đã được sai đến” (Lu-ca 4:43). Chữ “phải” như là một mệnh lệnh từ Đức Chúa Cha, khiến Đức Chúa Giê-su  không ngần ngại đi từ nơi này đến nơi khác. Nhằm mục đích “rao Tin Lành của nước Đức Chúa Trời”. Đây là công việc của Đấng Christ khi đến thế gian. 

Đức Chúa Giê-su có mặt trên đất 33 năm. Trước khi Ngài bước lên thập tự giá làm trọn chương trình cứu rỗi của Đức Chúa Trời ấy là rao truyền Tin Lành cho loài người tội lỗi. Trong đó, 30 năm đầu Ngài làm trọn bổn phận của người con. Ba năm còn lại Chúa Giê-su chuyên tâm trong việc rao giảng Tin Lành, đuổi quỉ để cho người bị nó ám ra khỏi xiềng xích của Sa-tan, chữa bệnh cho kẻ đau, hóa bánh cho đoàn dân đông. Ngài đến với người nghèo để an ủi, đến với những con người tội lỗi để họ được tha thứ. Có lúc Ngài không ngủ để cầu nguyện. Tất cả là để đáp ứng nhu cầu tâm linh và thể xác của mọi người đang cần được cứu giúp.

Trong ba năm, một thời gian ngắn ngủi mà đối với Ngài thì Tin Lành này cần được rao giảng khắp cùng trái đất. Chính vì vậy, công việc của Chúa Giê-su cần kêu gọi và đào tạo môn đồ. Khi bước vào chức vụ, Ngài thấy những người đánh cá là Si-môn, Anh-rê ... Ngài cất tiếng gọi: “Hãy theo ta, và ta sẽ khiến các ngươi trở nên tay đánh lưới người” (Mác 1:17). Ngài đã huấn luyện hiệu quả những môn đồ đi theo Ngài. Bởi chính họ sẽ là những người tiếp tục rao giảng Tin Lành “khi Ngài hết công vụ trên đất”. Dù rất bận rộn nhưng Ngài vẫn dành nhiều thời gian ở riêng với các môn đồ để dạy dỗ, huấn luyện họ. Ngài ban quyền năng Thánh Linh để sau này họ trở thành những người mở mang Nước Chúa. Chúa Giê-su từng nói: “Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, kẻ nào tin ta, cũng sẽ làm việc ta làm; lại cũng làm việc lớn hơn nữa, vì ta đi về cùng Cha” (Giăng 14:12).

Khi Chúa Giê-su đi về cùng Cha, Ngài đi bằng con đường thập tự giá, như Phúc Âm Giăng ghi lại chính Chúa Giê-su đã công bố: “Mọi việc đã được trọn; rồi Ngài gục đầu mà trút linh hồn” (Giăng 19:30). Căn cứ vào những phần tôi phân tích trên, bài viết này sẽ triển khai các vấn đề sau đây: Mục đích của Đức Chúa Giê-su được sai đến thế gian là phải giảng Tin Lành cho các nơi khác nhau. Cho đến khi Chúa lên thập tự giá và Ngài công bố: “Mọi việc đã được trọn; rồi Ngài gục đầu mà trút linh hồn.” Qua các sự việc cụ thể như sau:

. Sự nhập thể và mục đích của Chúa Giê-su đến thế gian.
. Công việc của Chúa Giê-su khi Ngài tại thế.
. Phạm vi của sự cứu rỗi.
. Chúa Giê-su lên thập tự giá

I. Sự nhập thể và mục đích của Chúa Giê-su đến thế gian

Chúa Giê-su giáng thế để bày tỏ Đức Chúa Trời vô hình, Kinh Thánh chép: “Chưa ai trông thấy Đức Chúa Trời bao giờ, chỉ Con Một Đức Chúa Trời ở tận trong lòng Cha mới giải bày được Đức Chúa Trời cho chúng ta” (Giăng 1:18). Chúa Giê-su giáng thế nhằm bày tỏ sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời: “Đức Chúa Trời cho Con Ngài xuống thế gian nào phải để kết án thế gian, nhưng để thế gian nhờ Đức Con mà được cứu.” (Giăng 3:17). Chúa Giê-su nhập thể qua lòng trinh nữ Ma-ri nhằm để:

“Nhắc chúng ta nhớ rằng, sự cứu rỗi của chúng ta mang tính chất siêu nhiên... Giăng tuyên bố rằng những ai tin và nhận quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời thì được sinh lại: “Chẳng phải bởi khí huyết, hoặc bởi tình dục, hoặc bởi ý người, nhưng sanh bởi Đức Chúa Trời vậy” (Giăng 1:13). Điểm nhấn mạnh ở đây sự cứu rỗi không đến từ sự nổ lực của con người... Loài người không những không thế giành lấy sự cứu rỗi cho mình, mà cũng chẳng thể tự đưa Đấng Cứu Rỗi vào trong xã hội loài người.”[1]

Chúa Giê-su khi nhập thể mang nhân tính và thể chất trọn vẹn của một người từng trải nghiệm sự phát triển cơ thể: “Con trẻ lớn lên, mạnh khoẻ, đầy dẫy sự khôn ngoan. Ân phúc của Đức Chúa Trời ở trên Ngài: Đức Giê-su khôn ngoan càng thêm, thân hình càng lớn, càng được đẹp lòng Đức Chúa Trời và loài người” (Lu-ca 2:40,52). Ngài cũng khát và mệt mỏi: “Tại đó có cái giếng của Gia-cốp. Vì đi đường mệt mỏi nên Đức Giê-su ngồi nghỉ bên giếng. Lúc đó, khoảng giữa trưa” (Giăng 4:6)....

Phúc Âm Mác giới thiệu Chúa Giê-su là Con Đức Chúa Trời (Son of God) - Đấng vẫn còn mang thần tính. Trong Phúc Âm Mác 1:1. Bởi vì Ngài là Con Đức Chúa Trời, là Ngôi Hai Thiên Chúa, nên Ngài có thẩm quyền trong công tác giảng dạy, đuổi quỉ, tha thứ tội lỗi, cũng như Ngài đến thế gian để cứu chuộc loài người ra khỏi tội lỗi. Chúa Giê-su là Đấng Vô Tội, “Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng vốn chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Đấng đó mà được trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời” (2 Cô-rinh-tô 5:21).

Phúc Âm Giăng mô tả Chúa Giê-su là Ngôi Lời, Ngôi Hai Thiên Chúa, giáng thế làm người để cứu chuộc nhân loại và luôn ở giữa chúng ta: “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật; chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con một đến từ nơi Cha..” (Giăng 1:14). Chúa Giê-su là Đấng quyền uy, toàn năng “Đức Giê-su đến gần và bảo các môn đệ: “Tất cả quyền uy trên trời, dưới đất đều giao cho Ta” (Ma-thi-ơ 28:18).

Sự giáng sinh của Chúa Cứu Thế mang một ý nghĩa thần học sâu nhiệm, Ngài đã từ bỏ ngôi cao sang, Ngài hạ mình đến nỗi, được diễn tả như sau: “6Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; 7chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người; 8Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự” (Phi-líp 2:6-8).

II. Công việc của Chúa Giê-su khi Ngài tại thế

Công việc của Đấng Christ gồm:

1/ CÁC CHỨC NĂNG CỦA ĐẤNG CHRIST: Vai trò khải thị; Sự cai trị và công tác giải hòa của Đấng Christ.
            2/ CÁC GIAI ĐOẠN TRONG CÔNG TÁC CỦA ĐẤNG CHRIST
            a/ Giai đoạn hạ mình: Nhập thể; Chịu chết; Xuống âm phủ.
            b/ Giai đoạn tôn cao: Phục sinh; Thăng thiên và cầu thay bên hữu Chúa Cha; Tái lâm.
            3/ ĐÀO TẠO MÔN ĐỒ

1/ CÁC CHỨC NĂNG CỦA ĐẤNG CHRIST: Vai trò khải thị; Sự cai trị và công tác giải hòa của Đấng Christ.

Trong bài thảo luận này, công việc của Đấng Christ được tôi trình bày sau đây: Công tác Đấng Christ gồm có ba chức năng: “Bày tỏ; Cai trị và Giải hòa”[2]. Gần gủi Chúa để hiểu ba chức năng: Bày tỏ, Cai trị và Giải hòa của Đấng Christ cho chính mình là thế nào. Chính mình hiểu thì mới kinh nghiệm được và chia sẻ cho người khác. Đây là về phương diện lịch sử được một số giáo phụ đề cập, nhưng chính Jonh Cavil là người quan tâm khai thác đặc biệt khái niệm này. Tuy nhiên, theo G. C. Berkouwer cho thấy: “Người ta phản đối khái niệm nhiều chức vụ vì cho rằng phân biệt dù bất cứ hình thức nào cũng đều là lý của con người và sặc mùi Kinh viện.” Tôi cũng học hỏi được từ SGK trang 118 “không nên nhấn mạnh một mặt nào làm giảm bớt giá trị của các mặt kia, cũng không nên tách riêng từng khía cạnh một cách quá rạch ròi thành ra những hành động riêng biệt của Đấng Christ.”

Theo tôi, Hội Thánh Tin Lành Việt nam chú trọng nhiều đến công tác truyền giáo, vì Đấng Christ xuống thế gian để tìm những con chiên lạc mất của nhà Y-sơ-ra-ên, Ngài tìm kiếm kẻ hư mất, đỗ huyết trên thập tự giá, Ngài là giá chuộc cho nhiều người... Giăng 3:16 được nhấn mạnh, Hội Thánh nhấn mạnh đến ĐẠI MẠNG LỊNH trong Ma-thi-ơ 28:19-20, Công Vụ 1:8...

Kinh Thánh dạy Cơ Đốc nhân phải chu toàn các bổn phận ngay trong thế gian, tương ứng với chức phận trong cuộc sống dành cho mỗi người trong xã hội (1Cô-rinh-tô 7:17-24; Ê-phê-sô 6:1-9). “Anh em đã được chuộc bằng giá cao, chớ trở nên tôi mọi của người ta làm chi. Hỡi anh em, ai nấy khi được gọi ở đấng bậc nào, thì phải cứ ở theo đấng bậc ấy trước mặt Đức Chúa Trời” (1Cô 7:23-24). Như vậy, có nhiều cách để hầu việc Đức Chúa Trời chứ không phải chỉ nhấn mạnh đến việc truyền giáo. Chỉ nhấn mạnh riêng chức vụ nào thì điều này làm mất quân bình trong việc phát triển Hội Thánh trên đất này.

2/ CÁC GIAI ĐOẠN TRONG CÔNG TÁC CỦA ĐẤNG CHRIST

a/ Giai đoạn hạ mình: Nhập thể; Chịu chết; Xuống âm phủ

Sự nhập thể được tôi trình bày ở phần I, trong bài này.

Chịu chết: Bước thấp cùng cực trong sự hạ mình của Chúa Giê-su là chịu chết một cách nhục nhã. Mục đích của sự chết của Chúa Giê-su nhằm qua đó con người tội lỗi được Cứu Chúa chuộc tội. Ý nghĩa của sự chết chuộc tội: “Leon Morris viết: Sự chuộc tội là một giáo lý quan trọng của đức tin... do tầm quan trọng của giáo lý nên chúng ta phải nghiên cứu nó thật cẩn thận” (trích SGK, tr. 136).  Thuyết chuộc tội là quan trọng theo Erickson vì nó “liên quan đến sự cứu rỗi” và là nền tảng cho các giáo lý khác.  Có năm học thuyết chuộc tội được nêu ra ở sách Giáo Khoa là:
a/ Thuyết Socinus: Chuộc tội để làm gương.
b/ Thuyết Ảnh hưởng đạo đức: Chuộc tội là chứng minh tình yêu của Đức Chúa Trời.
c/ Thuyết Thần trị (Govermental Theory): Chuộc tội là chứng minh cho sự công bình của Đức Chúa Trời.
d/ Thuyết Giá chuộc: Chuộc tội là đác thắng các thế lực của tội lỗi và gian ác.
e/ Thuyết Đền bồi: Chuộc tội là sự bồi thường cho Đức Chúa Cha.

Sự cứu chuộc của Đức Chúa Giê-su mang nhiều ý nghĩa về sự hy sinh và thay thế (Ê-sai 53) và giao ước mới: “Ngài phán rằng: Nầy là huyết ta, huyết của sự giao ước đổ ra cho nhiều người” (Mác 14:24). Chúng ta, cả thảy là những tội nhân không thể làm gì để được cứu rỗi, cũng chẳng ai có thể tự cứu rỗi chính mình. Song, bởi ân điển của Ðức Chúa Trời, Chúa Giê-su đã giáng thế, tình nguyện chịu chết trên thập tự giá làm của lễ chuộc tội cho chúng ta. Nhờ tin nhận công lao cứu chuộc đó, chúng ta được kể là công bình, và đứng trong địa vị công bình của Chúa Giê-su. Ấy chẳng phải bởi việc làm của chúng ta nên chẳng ai có một cớ nhỏ để khoe mình, mà chỉ có cớ để cảm tạ Chúa mà thôi.

Xuống âm phủ: Bài Tín Điều Các Sứ Đồ có ghi việc Chúa Giê-su xuống âm phủ. Đây là một lẽ đạo ít được các nhà thần học đề cập đến.

b/ Giai đoạn tôn cao: Phục sinh; Thăng thiên và cầu thay bên hữu Chúa Cha; Tái lâm.

Việc Chúa Giê-su phục sinh là Ngài đã đánh bại sự chết, là bước đầu tiên trở lại sự tôn cao, việc này rất quan trọng, sự kiện phục sinh là khởi đầu cho những ngày sau rốt. Đó là chiến thắng khải hoàn của Chúa Giê-su trên tội lỗi, được giải thoát khỏi sự rủa sả giáng trên Ngài vì Ngài đã tình nguyện gánh tội thay cho toàn nhân loại. “Bằng cớ sự phục sinh của Chúa Giê-su”[3]:
“1. Ngôi mộ trống (Ma-thi-ơ 28:6; Lu-ca 24:3 ).
2. Lời chứng của các Thiên sứ (Ma-thi-ơ 28:46; Lu-ca 24:5-7 )
3. Những người nói chuyện với Ngài sau khi sống lại: Phi-e-rơ, Ma-ri, Thô-ma.
4. Giê-su đã ăn, uống, chỉ ra các dấu đinh ở tay, ở sườn, sau khi Ngài sống lại.
5. 500 tín đồ thấy Ngài cùng một lúc (1Cô-rinh-tô 15:6).
6. Chúa Giê-su hiện ra với Ê-tiên khi vị chấp sự tử đạo (Công vụ 7:56”.
7. Chúa hiện ra với Phao-lô trên đường Đa-mách (Công. 9:5”.
8. Bởi lời chứng của hàng triệu người đã chứng minh Ngài là cứu Chúa hằng sống.
9. Bởi những bằng chứng không thể chối bỏ (Công vụ 1:3).”

Phục Sinh của Chúa Giê-su là do quyền năng và sức mạnh của Thiên Chúa, điều này gây dựng đức tin cho người tin Chúa: “Anh em đã bởi phép báp-tem được chôn với Ngài, thì cũng được sống lại với Ngài bởi đức tin trong quyền phép Đức Chúa Trời, là Đấng đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại” (Cô-lô-se 2:12). Nhờ bởi vinh quang của Ngài, “Vậy chúng ta đã bị chôn với Ngài bởi phép báp tem trong sự chết Ngài, hầu cho Đấng Christ nhờ vinh hiển của Cha được từ kẻ chết sống lại thể nào, thì chúng ta cũng sống trong đời mới thể ấy” (Rô-ma 6:4). Rao giảng Đức Chúa Giê-su Phục Sinh là rao giảng về Đức Chúa Cha đã cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chết và như thế là làm vinh hiển danh Ngài.

Sau đó là biến cố thăng thiên của Chúa Giê-su, Công vụ 1:9 ghi: “Ngài phán bấy nhiêu lời rồi, thì được cất lên trong lúc các người đó nhìn xem Ngài, có một đám mây tiếp Ngài khuất đi, không thấy nữa”. Chúa Giê-su thăng thiên, và Ngài đã ngồi bên hữu Đức Chúa Cha và cầu thay cho loài người. Sau khi Chúa Giê-su thăng thiên 10 ngày, Đức ChúaThánh Linh giáng lâm ở với Hội Thánh cho đến bây giờ. Như vậy, sự thăng thiên của Chúa Giê-su đem đến kết quả lớn lao, “Dầu vậy, ta nói thật cùng các ngươi: Ta đi là ích lợi cho các ngươi; vì nếu ta không đi, Đấng Yên Ủii sẽ không đến cùng các ngươi đâu; song nếu ta đi, thì ta sẽ sai Ngài đến” (Giăng 16:7).

Còn khía cạnh tôn cao khác nữa của Chúa Giê-su là sự tái lâm. Khi đó mọi đầu gối sẽ quì xuống và mọi lưỡi sẽ xưng Giê-su Christ là Chúa (Phi-lip 2:10-11). Những lời tiên tri về sự giáng sinh của Chúa Giê-su đã được ứng nghiệm hoàn toàn, điều nầy giúp Cơ Đốc nhân hoàn toàn tin tưởng rằng những lời tiên tri về sự tái lâm của Ngài cũng sẽ được ứng nghiệm trong tương lai, như: Tiên tri thời Cựu Ước (Đa-ni-ên 7:13). Chính Chúa Giê-su nói tiên tri (Ma-thi-ơ 25:31). Sứ đồ Phao-lô cho biết (1Ti-mô-thê 6:14).... Chúa tái lâm lúc nào? Đây là sự mầu nhiệm của Chúa, và chỉ có Đức Cha biết mà thôi: “Về ngày và giờ đó, chẳng có ai biết chi cả, thiên sứ trên trời hay là Con cũng vậy, song chỉ một mình Cha biết mà thôi” (Ma-thi-ơ 24:36).

3/ ĐÀO TẠO MÔN ĐỒ

Chúa Giê-su kêu gọi và đào tạo môn đồ để tiếp nối sứ mạng của Chúa trên đất sau khi Ngài về trời. Kinh Thánh: “16Ngài đi dọc theo mé biển Ga-li-lê, thấy Si-môn với Anh-rê, em người, đang thả lưới dưới biển; vì hai người vốn làm nghề chài. 17Đức Chúa Giê-su bèn phán cùng họ rằng: Hãy theo ta, và ta sẽ khiến các ngươi trở nên tay đánh lưới người. 18Tức thì hai người bỏ chài lưới mà theo Ngài. 19Đi một đỗi xa xa, Ngài thấy Gia-cơ, con Xê-bê-đê, với em là Giăng, đang vá lưới trong thuyền. 20Ngài liền kêu hai người; thì họ để Xê-bê-đê, cha mình, ở lại trong thuyền với mấy người làm thuê, mà theo Ngài” (Mác 1:16-20).

Trước khi làm việc và thường xuyên có một việc làm Chúa Giê-su không quên đó là cầu nguyện, như trước khi chọn 12 môn đồ Ngài cầu nguyện cùng Đức Chúa Trời: “Trong lúc đó, Đức Chúa Giê-su đi lên núi để cầu nguyện; và thức thâu đêm cầu nguyện Đức Chúa Trời. Đến sáng ngày, Ngài đòi môn đồ đến, chọn mười hai người, gọi là sứ đồ” (Lu-ca 6:12-13).

Ngài Đi và THẤY:

. “Ngài đi dọc theo mé biển Ga-li-lê, thấy Si-môn với Anh-rê, em người, đang thả lưới dưới biển; vì hai người vốn làm nghề chài” (c.16). 

 . “Đi một đỗi xa xa, Ngài thấy Gia-cơ, con Xê-bê-đê, với em là Giăng, đang vá lưới trong thuyền” (c.19). 

Động từ đi và thấy, cho thấy Chúa Giê-su không nề hà vất vã, mệt nhọc để đi bộ, Ngài đi dọc theo mé biển Ga-li-lê, Ngài đi một đỗi xa xa. Quang cảnh trời nước mênh mông, vùng này tôi đoan chắc là tầm nhìn không bị che khuất nên Chúa thấy Si-môn và Anh-rê đang thả lưới dưới biển; với tốc độ của người đi bộ Chúa Giê-su thấy Gia-cơ với em là Giăng, đang vá lưới trong thuyền!

Ngài KÊU GỌI:

. “Đức Chúa Giê-su bèn phán cùng họ rằng: Hãy theo ta,....” (c.17a).

 . “Ngài liền kêu hai người;....” (c.20).

Sự kêu gọi này là một mạng lệnh: “Hãy Theo Ta”! Lời kêu gọi mạnh mẽ, xác định một lệnh truyền. Đây không phải là một lời đề nghị suông; cũng không phải là một lời khuyên... Mà là một mệnh lệnh! “Đi theo” hàm chứa ý niệm chịu dưới quyền điều khiển của người kêu gọi đưa ra cho người được kêu gọi...; “và ta sẽ khiến các ngươi trở nên tay đánh lưới người.” Một lời kêu gọi xác định cho người được kêu gọi biết được đích đến của họ.

Mục tiêu huấn luyện được đặt rõ ràng: Chúa Giê-su đã nêu lên rõ ràng về mục tiêu đào tạo: “Ta sẽ khiến các ngươi trở nên tay đánh lưới người.” (c.17b). Chúa Giê-su sẽ làm cho các môn đệ của Ngài trở thành những “tay đánh lưới người”, đầy ơn của Chúa.

Chúa Giê-su đào tạo môn đồ của Ngài:

Phương cách Chúa Giê-su đào tạo các môn đệ: Phương cách đào tạo của Chúa là ĐI THEO CHÚA: Chúa bảo, “Hãy theo ta,” (c.17a).” Chúa dùng phương pháp thính thị (“thính – tai nghe”; “thị – mắt thấy”), để Ngài giáo dục môn đồ; không những môn đồ nghe và thấy Chúa dạy, mà còn trực tiếp thấy một cách sống động. Đây là một phương cách giáo dục rất khó, nếu người dạy không “chuyên môn, không chuyên nghiệp” thì nhiều khi không thể giải quyết những tình huống khó, có thể xảy ra khi nan đề đến đột ngột! Khi đi theo, các môn đồ nhìn thấy, được nghe và ghi nhớ sau đó thuật lại những Lời dạy dỗ của Chúa Giê-su cho người khác (nhớ và làm theo).

Chúa Giê-su đưa môn đồ vào công trường của Ngài: Chúa Giê-su kêu mười hai sứ đồ, bắt đầu sai đi từng đôi. Ngài ban quyền phép trừ tà ma. Ngài còn dặn: Đi đường đừng đem chi theo hết... chỉ mang dép và đừng mặc hai áo; hễ nhà nào cho sẽ vào, ở đó, cho đến khi đi; nếu chỗ nào người ta không chịu tiếp thì hãy đi khỏi đó. Công việc làm và kết quả của việc vâng Lời Chúa ra đi là: Các sứ đồ đi ra, giảng cho người ta phải ăn năn; đuổi nhiều ma quỉ, xức dầu cho nhiều kẻ bịnh và chữa cho được lành (theo Mác 6:7-13)[4] Phân đoạn Kinh Thánh trên, cho thấy rằng, trước khi làm việc gì cho Chúa thì phải qua các giai đoạn: Được Chúa kêu gọi (tuyển sinh), Ngài huấn luyện (đào tạo) và cuối cùng là Chúa sai đi.

Còn điều vô cùng quan trọng khác, đó là đi từng đôi để cầu nguyện cho nhau, cầu thay khi người kia đang nói chuyện với thân hữu, vì cuộc chiến này là giành lấy linh hồn tội nhân về cho Chúa, không phải là chiến đấu bởi thịt và huyết, bèn là chiến đấu với các thần dữ từ mọi miền trên trời, Ê-phê-sô 6:12 chép rằng: “Vì chúng ta đánh trận, chẳng phải cùng thịt và huyết, bèn là cùng chủ quyền, cùng thế lực, cùng vua chúa của thế gian mờ tối nầy, cùng các thần dữ ở các miền trên trời vậy.” Và Kinh Thánh cũng cho biết hai người hơn một người: “Hai người hơn một, vì họ sẽ được công giá tốt về công việc mình. Nếu người này sa ngã, thì người kia sẽ đỡ bạn mình lên; nhưng khốn thay cho kẻ ở một mình mà sa ngã, không có ai đỡ mình lên!” (Truyền Đạo 4:9-10).

III. Phạm vi của sự cứu rỗi

Bản Thể của “Con Đức Chúa Trời” mà Đức Chúa Giê-su mang lấy là là một vấn đề vô cùng hệ trọng. Vì nếu Ngài chẳng phải là Đức Chúa Trời thì việc chịu chết của Ngài trên thập tự giá không có tác dụng đền tội thay, mà chính Ngài là Đức Chúa Trời: “Ấy chính Ngài làm của lễ chuộc tội lỗi chúng ta, không những vì tội lỗi chúng ta thôi đâu, mà cũng vì tội lỗi cả thế gian nữa” (1Giăng 2:2). Và chỉ duy nhất Đức Chúa Trời mới là Đấng có thể hoàn thành một công trình như thế: “Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết” (Rô-ma 5:8). Đức Chúa Giê-su phải là Đức Chúa Trời thì cả nhân loại, không phân biệt dân tộc, màu da, giàu, nghèo mới được cứu ra khỏi tội, mới được đem vào sự sống đời đời và vào cuộc hòa giải với Đức Chúa Trời. Như vậy, phạm vi của sự cứu rỗi gồm cá nhân và cộng đồng cả thế gian.

IV. Chúa Giê-su lên thập tự giá

Trong phần câu hỏi có ghi: “Đức Chúa Giê-su Christ Đấng cứu chuộc nhân loại, qua sự chết của Ngài trên thập tự giá đây là công việc mà chính Ngài đã công bố: “Mọi việc đã được trọn; rồi Ngài gục đầu mà trút linh hồn” (Giăng 19:30).” Ngài đã xem chính Ngài như của lễ hy sinh đời đời vì tội lỗi của loài người. Hay nói cách khác thì Đức Chúa Giê-su Christ đã mua chuộc tất cả loài người khỏi sự hủy diệt của tội lỗi bằng sự đổ huyết của Ngài.

Trong 33 năm tại thế, có 3 năm Ngài đi làm công việc của Ngài khi giáng thế làm người. Ngài là Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng gánh lấy tội lỗi của thế gian bởi phép báp-tem của Ngài và rồi đến ngày Ngài lên thập tự giá (Ma-thi-ơ 3:13-17). Đấng Christ bày tỏ cho chúng ta rằng chính Ngài đã hy sinh như “Của Lễ Chiên Con của chính chúng ta.” Bởi sự hy sinh chính mình Ngài cho tội lỗi của con người, Ngài đã trả hết cái giá của sự cứu chuộc với Đức Chúa Trời vì dân sự của Ngài.

Trái ngược với sự dâng tế lễ tượng trưng và lặp đi lặp lại của A-rôn và những thầy tế lễ khác trong Cựu ước, Đấng Christ đã đến trong thế gian, gánh tội lỗi của thế gian trên thân thể Ngài qua phép báp-tem mà Ngài đã nhận từ Giăng Báp-tít và Chúa Giê-su chết trên thập tự giá, Ngài đã làm trọn mọi sự công chính của Đức Chúa Trời một lần đủ cả. Đó là lý do Ngài đã chịu báp-tem và đã dâng mình làm tế lễ trọn vẹn trên thập tự giá, như trong Hê-bơ-rơ 9:26 chép: “Hiện nay đến cuối cùng các thời đại, Ngài chỉ hiện ra một lần, dâng mình làm tế lễ để cất tội lỗi đi.” Chúa Giê-su giáng thế để làm sinh tế chuộc tội cho loài người, Kinh Thánh cho biết: “Và các con biết, Ngài đã đến để xóa bỏ tội lỗi và trong Ngài không có tội lỗi.” (1 Giăng 3:5).

Những yếu tố nền tảng liên quan đến ý nghĩa sự chuộc tội gồm những yếu tố sau: Bản tính của Đức Chúa Trời, Ngài là Đấng Thánh khiết và tình yêu thương. Ngài không chấp nhận tội lỗi của con người và chỉ có Ngài đủ năng quyền để cứu chuộc nhân loại  qua Đức Chúa Giê-su. Vai trò của luật pháp, luật pháp cho biết con người có tội không có khả năng thoát khỏi tội và qua Đức Chúa Giê-su chết trên Thập tự, người tin mới được Ngài cứu chuộc. Tình trạng của nhân loại, “Vì mọi người điều đã thiếu mất sự vinh hiển  của Đức Chúa Trời” (Rô ma 3:23).

Chỉ có  Đức Chúa Giê-su là Đấng Trung bảo giữa Đức Chúa Trời và con người và Ngài chuộc tội  cho chúng ta. Ngài là Đấng Christ, là Chúa Giê-su, là Đấng có thần tính và nhân tính, Ngài là Ngôi Hai trong Ba Ngôi Thiên Chúa, mà cũng là Đức Chúa Trời. Ngài là Đấng vô tội, sự chết của Ngài có giá trị cho những kẻ tin Ngài, dù Đấng Christ chịu điều sỉ nhục bởi lằn roi của kẻ thù; đau đớn trên cây thập tự vì tội lỗi của nhân loại. Đức Chúa Trời sai Con Ngài … sanh ra dưới luật pháp, để chuộc  những người dưới luật pháp” (Ga-la-ti 4:5).

So sánh với hệ thống tế lễ trong Cựu ước: Trong Cựu Ước các của lễ dâng lên bàn thờ  là của lễ  dâng lên Đức Chúa Trời xin sự tha thứ. Khi dâng sinh tế  và nó sẽ chết thay cho người phạm tội (Lê-vi Ký 1:3-4). Hành động trình dâng và đặt tay lên đầu con sinh là sự xưng tội của tội nhân. Việc đặt tay tượng trưng sự chuyển tội từ tội nhân sang con sinh. Sau đó của dâng mới được thầy tế lễ tiếp nhận.

Ý Nghĩa của việc Chúa Giê-su lên thập tự giá và lời kết: Trong Cơ Đốc giáo, thập tự giá là giao điểm tình yêu của Đức Chúa Trời và công nghĩa của Ngài. Chúa Giê-su Christ là Chiên Con của Đức Chúa Trời, Đấng cất đi tội lỗi của thế gian đi (Giăng 1:29). Do sự cám dỗ của Sa-tan (Sáng-thế Ký 3:1-5), A-đam và Ê-va đã phạm tội và bị xa rời  khỏi ân điển của Đức Chúa Trời (Sáng. 3:21-24). Đức Chúa Cha đã sai Con một của Ngài vào thế gian để trở thành con người xác thịt, và là Đấng Cứu Chuộc cho loài người tội lỗi. Chúa Giê-su sinh ra bởi một nữ đồng trinh (Lu-ca 1:26-38). Ngài vô tội, bởi Ngài là Con Đức Chúa Trời, “ Vì chúng ta không có thầy tế lễ thượng phẩm chẳng có thể cảm thương sự yếu đuối chúng ta, bèn có một thầy tế lễ bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội” (Hê-bơ-rơ 4:15), Ngài có thể cung ứng sự hy sinh vô giá mà Đức Chúa Trời đòi hỏi. Công lý của Đức Chúa Trời đòi hỏi sự phán xét và đoán phạt tội lỗi: “Nầy, mọi linh hồn đều thuộc về ta; linh hồn của cha cũng như linh hồn của con, đều thuộc về ta; linh hồn nào phạm tội thì sẽ chết” (Ê-xê-chi-ên 18:4). Tình yêu của Đức Chúa Trời đã cảm động Ngài ban Con độc sinh của Ngài để làm của lễ chuộc tội (Giăng 3:16).

Cái chết trên thập giá của Đức Chúa Giê-su là cớ vấp phạm cho người Do-thái, và là sự điên rồ đối với dân ngoại: “Thì chúng ta giảng Đấng Christ bị đóng đinh trên cây thập tự, là sự người Giu-đa lấy làm gương xấu, dân ngoại cho là rồ dại” (1Cô-rinh-tô 1:23). Nhưng đối với những kẻ được tuyển chọn, đó là quyền năng và sự khôn ngoan của Chúa “Song le, về những người được gọi, bất luận người Giu-đa hay người Gờ-réc, thì Đấng Christ là quyền phép của Đức Chúa Trời và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời” (1Cô. 1:24). Đức Chúa Trời bày tỏ sự hoàn tất sứ mạng của Chúa Giê-su: “Ta từ Cha xuống trần gian, rồi sẽ rời trần gian về với Cha” (Giăng 16:28)./.

GS. NGỌC HUỆ
(thevbi.net)



[1] Erickson, Thần học Cơ Đốc Giáo, NXB Tôn giáo, tr. 110.
[2] Erickson, Sđd, tr. 118.
[3] SỰ PHỤC SINH CỦA CHÚA GIÊ-SU, https://vietchristian.com/bhkt/reader.asp?pid=,src=/bhkt/thanhoc.txt,name=Bai,enc=2,nl=1,id=18,max=0, truy cập ngày 03/05/2020.
[4] “7 Ngài bèn kêu mười hai sứ đồ, bắt đầu sai đi từng đôi, ban quyền phép trừ tà ma. 8 Ngài truyền cho sứ đồ đi đường đừng đem chi theo hết, hoặc bánh, hoặc bao, hoặc tiền bạc trong dây lưng, chỉ đem một cây gậy mà thôi; 9 chỉ mang dép, đừng mặc hai áo. 10 Ngài phán cùng sứ đồ rằng: Hễ nhà nào các ngươi sẽ vào, hãy cứ ở đó, cho đến khi đi. 11Nếu có chỗ nào, người ta không chịu tiếp các ngươi, và cũng không nghe các ngươi nữa, thì hãy đi khỏi đó, và phủi bụi đã dính chân mình, để làm chứng cho họ. 12 Vậy, các sứ đồ đi ra, giảng cho người ta phải ăn năn; 13 đuổi nhiều ma quỉ, xức dầu cho nhiều kẻ bịnh và chữa cho được lành” (Mác 6:7-13).


Thứ Năm, 18 tháng 6, 2020

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên

GS. PHẠM NGỌC HUỆ
Tín ngưỡng thờ kính tổ tiên vốn là một tín ngưỡng lâu đời của người Việt, đó cũng là một yếu tố văn hoá của cư dân thiên về tình cảm và trực quan hơn là lý trí và suy luận. Ðồng thời, thờ kính tổ tiên ở Việt Nam ngày càng được củng cố thêm bằng những cuộc giao thoa văn hoá. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có một quá trình hình thành, có một mảnh đất phát triển khá lý tưởng, để nó có thể trở thành một bản sắc văn hoá không thể thiếu của người Việt Nam.

Người theo Tín ngưỡng này rất xem trọng và thiêng liêng hóa người đã qua đời. Việc cúng giỗ và hôn lễ còn là biểu hiện một mối dây liên đới mật thiết giữa tổ tiên (người đã khuất) và con cháu (người còn sống), là điểm gặp gỡ giữa vũ trụ hữu hình và thế giới linh thiêng vô hình. Hồn tổ tiên vẫn lui về với gia đình khi con cháu đứng trước bài vị để lễ gia tiên, thắp hương tưởng niệm, vì tin rằng tổ tiên vẫn hiện hữu bên cạnh họ và có thể chi phối mọi sinh hoạt lớn bé trong đại gia đình tông tộc. Ðồng thời, tổ tiên cũng là mối dây liên kết mọi thành viên trong cùng một dòng tộc, dòng tộc nào càng quan tâm chu đáo với tổ tiên thì dòng tộc đó càng gắn bó với nhau chặt chẽ hơn. Theo truyền thống, dân Việt thờ cúng tổ tiên là hành động tưởng nhớ người thân đã qua đời, cũng có nghĩa là thực hành đạo hiếu, để con cháu không quên cội nguồn, về sau người ta thêm vào sự thờ phượng và cúng bái.

Thực hành đạo hiếu của người theo Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là 

phù hợp với thực hành đạo hiếu của Cơ Đốc giáo. Tuy nhiên, theo 

Cơ Đốc giáo, để trở nên người con thảo hiếu, là phải lo lắng, chăm 

sóc ông bà, cha mẹ lúc còn tại thế. Tổ tiên cũng là con người, đều 

là tạo vật của Đức Chúa Trời nên không có quyền ban phước hay 

giáng họa. Vì thế, chỉ kính chớ không nên thờ. 

          TRÍCH TRONG Chứng đạo trong bối cảnh Việt nam
NGỌC HUỆ - DIỆP LỤC TỐ

Bí quyết để có hạnh phúc trong đời sống vợ chồng Cơ-đốc.




GS. PHẠM NGỌC HUỆ
Dẫn nhập
 Bối cảnh
Từ xưa đến nay, hầu như nền văn hoá nào cũng coi hôn nhân là việc thiêng liêng. Có thể nói, hôn nhân và gia đình là một trong những thể chế cổ xưa nhất, nằm trong chương trình của Thiên Chúa khi Ngài dựng nên loài người.[1] Cũng như người trong thế gian, Cơ Đốc nhân xem gia đình là tế bào căn bản của đời sống xã hội, là cộng đoàn nơi đó từ thời thơ ấu con người được học biết tôn trọng những giá trị luân lý, tôn thờ Thiên Chúa và con trẻ là thế hệ tương lai.
Nhu cầu nghiên cứu (Purpose of the Study)
Ngày nay tình trạng ly hôn thường xảy ra ở những gia đình trẻ ở độ tuổi 20 – 30 chiếm hơn 60%.[2] Thật đau buồn về tỷ lệ ly dị trong vòng những người tự cho mình là cơ-đốc-nhân cao gần như là thế giới ngoại đạo.[3] Thế nên, nhu cầu cần nghiên cứu để đưa ra những bí quyết khiến vợ chồng sống hạnh phúc bền vững bên nhau và hiểu được ý nghĩa của đời gia đình là điều cấp thiết.
Mục đích nghiên cứu (Goals of the Study)
            Mục đích của hôn nhân là:  Để vợ chồng giúp đỡ lẫn nhau (Sáng-thế-ký 2:18-20) và để sanh sản thêm nhiều trên đất (Sáng1:28). Kinh Thánh cho biết điều gì Thiên Chúa đã kết hợp, thì loài người không được phân ly.[4] Trên cơ sở Lời Chúa nghiên cứu đề tài “Bí quyết để có hạnh phúc trong đời sống vợ chồng Cơ Đốc”. Từ đó nêu ra những cách sống, cách cư xử, bổn phận và trách nhiệm của vợ, chồng nhằm giúp cho cuộc sống đôi lứa được hạnh phúc.
Trọng tâm của vấn đề nghiên cứu (Statement of the Problem) )
Nghiên cứu về hôn nhân hướng đến hai điều: Đối nội, đối ngoại trong đời sống của vợ chồng và lưu truyền nòi giống (sinh sản và giáo dục con cái.).
Luận Đề (Thesis Statement) 
            Hôn nhân là do Đức Chúa Trời thiết lập, muốn có cuộc hôn nhân hạnh phúc thì cần phải có sự  chuẩn bị để khi kết hôn cả hai cá thể sống với nhau không bị bỡ ngỡ, mà phải cùng chung tay xây dựng hạnh phúc gia đình. Trong cuộc sống lứa đôi, cả hai không thể sống tách biệt với xã hội, mà cần phải sống hòa mình vào môi trường văn hóa hiện tại, với những công việc thường ngày, trong đó cũng có cả việc nuôi dạy con cái. Và Cơ đốc Nhân tìm được hạnh phúc lứa đôi ở đâu? Có phải Cơ Đốc Nhân chỉ tìm được hạnh phúc lứa đôi bền vững với người phối ngẫu cùng niềm tin?
Những công trình đã được nghiên cứu về đề tài này
            Hiện nay có rất nhiều bài viết, bài học nghiên cứu đề tài về hôn nhân, gia đình, nuôi dạy con. Bài viết này mang đến một cái nhìn mới về cách sống thế nào để vợ chồng được thuận hòa, có mục đích để giáo dục thế hệ đi sau có niềm tin trong cuộc sống, không bị ảnh hưởng bởi lối sống thác loạn mất niềm tin, trong bối cảnh đạo đức xuống cấp như hiện nay.
Phạm vi và giới hạn bài khảo luận
Đề tài nghiên cứu trong phạm vi đời sống vợ chồng Cơ-đốc.
Phương pháp thu thập thông tin
            Người viết ghi chú lại những thông tin liên quan đến đề tài bằng cách tra xem tài liệu đánh dấu dòng nào, trang sách nào, tựa sách nào cần đọc và trích dẫn; đọc kỹ những đoạn sách để hiểu ý mà tóm tắt; Đánh giá giá trị của trang web cần trích dẫn, không dùng những trang web có tính cách nghi ngờ vì thông tin sai lạc không kiểm chứng được. Sau đó, tổng hợp lại những thông tin thu thập được, hệ thống lại cho có tính thống nhất.
Tầm quan trọng của bài nghiên cứu (Importance of the Study)
            Yếu tố căn bản của hôn nhân là tình yêu vì hôn nhân được thiết lập do tình yêu và mục đích cuối cùng của hôn nhân cũng chính là tình yêu. Hôn nhân có mục đích: - yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau. - cộng tác với Thiên Chúa trong việc sinh sản và giáo dục con cái nhằm làm vinh hiển danh Chúa. Qua bài nghiên cứu này sẽ cung cấp cho người đọc những kiến thức, kỹ năng, tình yêu thương, sự vâng phục Chúa, những cách cư xử giữa vợ chồng sống với nhau có trách nhiệm liên đới, phục vụ nhau trong tình yêu agapé, những sự chuẩn bị trước hôn nhân… để ứng dụng trong trong đời sống cho chính mình hay dùng đó làm tài lịêu để cung cấp cho thanh niên nam nữ đang muốn bước vào ngưỡng của tình yêu để tiến đến hôn nhân và cũng nhằm giúp họ có đời sống lứa đôi hạnh phúc.
Phương pháp nghiên cứu (Research Methodology)
            Người viết nghiên cứu theo phương pháp định tính, nghiên cứu trường hợp điển hình (case study).
Phạm vi/Giới hạn của bài nghiên cứu (Limitations)
            Đề tài nghiên cứu trong phạm vi đời sống vợ chồng Cơ-đốc.

Thân bài

Chuẩn bị trước hôn nhân, hôn nhân là gì? Hôn nhân là một giao ước ký kết giữa một người nam và một người nữ, với ý thức tự do và trách nhiệm, để sống trọn đời yêu thương nhau, sinh sản và giáo dục con cái nhằm làm tròn nhiệm vụ làm cha, làm mẹ.
            Cha mẹ chuẩn bị cho con cái, hôn nhân có tầm quan trọng cả đời của một con người, con trẻ được sinh ra, được nuôi dưỡng lớn lên, được giáo dục trước nhất là từ gia đình, trong đó trách nhiệm của cha mẹ, hay người giám hộ rất quan trọng. Trẻ nhỏ từ 0 – 3 tuổi, là thời kỳ không ai có thể thay thế được vị trí và vai trò của người mẹ. Vì vậy, để cuộc hôn nhân của con cái sau này được hạnh phúc, các bậc làm cha mẹ phải có trách nhiệm giáo dục con mình ngay từ buổi ấu thơ, như Kinh Thánh đã chép ở Châm ngôn 22:6 “Hãy dạy cho trẻ thơ con đường nó phải theo, dù khi nó trở về già cũng không hề lìa khỏi đó.”
Giáo dục trẻ lứa tuổi ấu nhi, thiếu nhi
            “Những năm tháng đầu tiên của cuộc đời sẽ quyết định sự phát triển trong tương lai về mọi mặt: Tinh thần, thể chất, tình cảm và tâm linh v.v… khi xây dựng xong một tòa nhà thì không còn thấy nên móng nữa, nhưng cả sức mạnh và sự bền vững của tòa nhà phụ thuộc vào nền móng đó.”[5]
Đặc điểm tâm lý trẻ phát triển theo từng lứa tuổi, cha mẹ cần nắm bắt để có phương pháp dạy trẻ tốt hơn. Người viết phỏng vấn cô Thanh Trúc phụ trách thiếu nhi Hội Thánh Phúc Âm Liên Hiệp tại Bình Hưng về tâm lý của các lứa tuổi cô cho biết như sau: Trẻ dưới 2 tuổi, trẻ thấy và để ý cha mẹ, thầy cô giáo dùng Kinh Thánh, biết có sự liên hệ giữa tên Chúa Giê-su với Kinh Thánh, nghe được bài hát, truyện tích Kinh Thánh đơn giản v.v… Trẻ từ 3 – 5 tuổi, biết Kinh Thánh là quyển sách quan trọng do quan sát cách dùng của người lớn, biết tha thứ, làm hòa với người khác, thích xem truyện tích kể bằng tranh v.v… Trẻ từ 6 – 8 tuổi, hiểu về Kinh Thánh nhiều hơn như: Có hai phần Tân Ước và Cựu Ước, hiểu vài đoạn, chấp nhận dễ dàng những điều dạy về Chúa v.v… Trẻ từ 9 – 12 tuổi, biết sử dụng mục lục quyển Kinh Thánh, biết quyết định điều đúng sai, làm hay không nên làm, có thể đặt những câu hỏi sâu hơn về Chúa.

               Giáo dục thanh thiếu niên trong gia đình, qua tuổi thiếu nhi, trẻ thành thanh thiếu niên là thời kỳ thay đổi lớn của đời người. Sự  thay đổi dễ nhận thấy là về thể chất, sự thay đổi về nhận thức cũng xảy ra. Thanh niên là tuổi từ 18 đến 35 tuổi, các bạn trẻ thường có nhiều quyết định ảnh hưởng đến chính bản thân và tương lai của mình như: Quyết định về đức tin, về ngành học, về mối tương quan xã hội, về hôn nhân v.v… Tuổi này thường có nhiều nhu cầu, và khát vọng thầm kín mãnh liệt về đời sống thực tế, thí dụ như: muốn được cha mẹ chấp nhận những việc làm riêng tư; có ước muốn được lớn khôn trong sự chăm sóc và quan tâm của cha mẹ, bạn bè, có xu hướng về tình dục v.v... Ngay như khi chúng có những vấn đề khó khăn, chúng cũng muốn cha mẹ tiếp tay giải quyết. Nhu cầu giải quyết thì nhiều, nếu không được hướng dẫn bởi lời của Chúa thì sẽ dễ dẫn đến việc đi vào con đường tội lỗi. Chính vì vậy lứa tuổi nầy rất cần phải được chăm sóc để tăng trưởng thuộc linh, ý nghĩa đầu tiên là phải trở nên mới như trong câu kinh thánh (IICô 5:17) “Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới”. Hiểu những nhu cầu của lứa tuổi thanh niên, từng thành viên trong gia đình, cha mẹ  mới có cách dạy dỗ cho họ trong mối tương giao bởi tình yêu, để họ chấp nhận làm theo ý muốn đúng đắn bằng sự tự nguyện, từ đó không gây sự phản kháng từ phía người được dạy dỗ.
Nhận xét: Từ “dạy” chỉ sự hướng dẫn đầu tiên mà người làm cha, mẹ cung cấp cho con cái. Sự huấn luyện được vạch rõ ràng cho chúng cách cư xử trong cuộc sống mà chúng được chuẩn bị như sự lễ phép, sự chân thật, sự trung tín, sự vâng lời... Bắt đầu giáo dục sớm cho con cái là một việc làm hết sức cần thiết và đó là thể hiện trách nhiệm của bậc làm cha, mẹ trong việc phát triển nhân cách của con mình. “Hỡi ai làm mẹ cha, chăm sóc con quí Chúa ban, hãy luôn gắng dạy trẻ thơ học theo Chúa, quà cao quý nhất với con đời đời.”[6]. Lời Chúa dạy rằng: “Các lời mà ta truyền cho ngươi ngày nay sẽ ở tại trong lòng ngươi; khá ân cần dạy dỗ điều đó cho con cái ngươi, và phải nói đến, hoặc khi ngươi ngồi trong nhà, hoặc khi đi ngoài đường, hoặc lúc ngươi nằm, hay là khi chỗi dậy” (Phục 6:6– 7). Dạy dỗ con cái là một mạng lịnh của Chúa truyền, dạy dỗ con cái cũng là cách sống đạo, làm sáng danh Chúa trong đời sống của một Cơ Đốc nhân.
            Tự chuẩn bị cho bản thân, hôn nhân được xếp thứ hạng quan trọng, có thể nói rằng chỉ đứng sau quyết định tin Chúa, bởi vì hôn nhân ảnh hưởng toàn diện đời sống, nên Cơ Đốc nhân phải chuẩn bị cho chính bản thân mình trước khi bước vào cuộc sống lứa đôi. Hôn nhân không hoàn toàn có màu hồng, lãng mạn giống như khi hai người trong giai đoạn yêu nhau. Nên cần phải chuẩn bị với một tâm thế kỹ lưỡng, biết xây dựng cho mình tình yêu thánh thiện trong Chúa, biết cho đi là điều phước hạnh, hơn là chỉ mong nhận lãnh mọi điều tốt lành về cho mình[7]. Những liệt kê dưới đây sẽ cung cấp một số kiến thức cho bạn trẻ để khi bước vào đời sống hôn nhân thì đem ra thực hành

Học và thực hành những điều đã học

 Tình yêu là nền tảng căn bản: Hôn nhân mà không có tình yêu thì ví như nấm mồ chôn sống tuổi thanh xuân của con người. Vì vậy, hãy kết hôn với người nào mà bạn thực sự cảm thấy yêu thương và tin tưởng. Tình yêu sẽ khiến cuộc sống của vợ chồng ngập tràn hạnh phúc, dễ dàng mở lòng tha thứ cho nhau, một đoạn kinh văn cho thấy yêu thương và tha thứ quan hệ mật thiết “Tình yêu thương hay nhịn nhục, tình yêu thương hay nhân từ. Tình yêu thương hay dung thứ mọi sự, tin mọi sự, trông cậy mọi sự, nín nhịn mọi sự.” (ICô 13:). Tục ngữ Việt Nam cũng có câu: “Chín bỏ làm mười; Thương nhau cau sáu chẻ ba, ghét nhau cau sáu chẻ ra làm mười”. Yêu thương sinh ra cái đẹp, thì sự tha thứ là sự hồi sinh cái đẹp.
Kinh tế là điều không thể thiếu: Nếu không có điều kiện kinh tế thì sẽ rất khó bảo đảm cho đời sống của gia đình; mâu thuẫn về kinh tế đôi khi sẽ dẫn đến đổ vỡ về tình cảm! Chỉ nên kết hôn khi cả hai đã có điều kiện về kinh tế để sống tự lập. Một điều cần yếu khác là sự Chung thủy và tin tưởng lẫn nhau: Khi một trong hai người có tính không chung thủy thì trước hay sau cuộc hôn nhân cũng sẽ rạn nứt, cuộc sống thiếu niềm tin sẽ dẫn đến nghi kỵ, ghen tuông. Trong đời sống hôn nhân, Kinh Thánh có dạy không chia rẽ những kẻ mà Đức Chúa Trời kết hợp[8], Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-el có phán rằng ta ghét người nào bỏ vợ[9]. Sứ đồ Phao-lô cũng nêu một quy luật khác về hôn nhân như sau: “Chồng còn sống bao lâu thì vợ phải buộc chặt với chồng bấy lâu; nếu chồng chết, vợ được tự do, muốn lấy ai tùy ý, miễn là theo ý Chúa.” (I Cô 7:39). Đó là lý do vì sao trong lễ cưới chúng ta thường nghe cô dâu chú rể hứa nguyện với nhau: “Chỉ có cái chết mới chấm dứt cuộc hôn nhân này mà thôi”. Theo tiêu chuẩn của Chúa, hôn nhân là một ràng buộc suốt đời nên người phạm tội ngoại tình là người không vâng theo tiêu chuẩn của Chúa là phạm tội. “Tình dục tự nó tốt, con người có thể chất luôn luôn là con người có phái tính, vì thế cơ-đốc-nhân cũng không ngượng ngùng về tính dục, mà coi tình dục là một trong những điều quí giá Cha giàu có trên trời đã ban cho mình vui hưởng.”[10]

Con cái là sợi dây kết nối giữa hai người: Sự thăng hoa trong tình yêu của vợ chồng, kết quả là con cái, đó là sợi dây kết nối kỳ diệu nhất giữa hai cá thể. Cùng nhau chăm sóc và yêu thương con cái sẽ khiến cả hai thực sự hạnh phúc và có cùng mục tiêu phấn đấu để xây dựng gia đình hòa thuận. Sự thông cảm và chia sẻ sẽ đưa hai bạn đi cùng nhau đến hết cuộc đời: Chỉ có sự đồng cam cộng khổ, thấu hiểu và chia sẻ với nhau trong mọi tình huống mới khiến hai bạn có thể ở bên nhau dù khó khăn hay vinh quang, hai người có nhau đến cuối cuộc đời mình.
Chuẩn bị bước vào đời sống hôn nhân, mạng lệnh của Chúa cho hôn nhân: Người nam chỉ có một vợ, người nữ chỉ có một chồng mà thôi[11]. Hôn nhân có yếu tố phái tính (nam và nữ), trong đó có yếu tố tình dục. Tình dục là tốt lành trước khi loài người sa ngã. Tuy nhiên, nó có thể bị lạm dụng, khi được nâng lên hàng đầu yếu tố này bị Đức Chúa Trời lên án (Rô-ma 1: 24 – 25). Chúa Giê-su dạy: “Hễ ai ngó đàn bà mà động tình tham nuốn thì trong lòng đã phạm tội tà dâm cùng người rồi” (Ma-thi-ơ 5:28). Chúa xem sự trinh khiết là tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời cho cả nam và nữ trong đời sống hôn nhân. Như vậy, sự giao hợp chỉ đúng và chỉ có trong hôn nhân mà thôi. Cả người nam và người nữ nên tham gia lớp học tiền hôn nhân trong đó cả hai người được học những điều như: Vợ phải phục tùng chồng (Ê-phê-sô 5:22-24; Tít 2:4-5; I Phi-e-rơ 3:1-6.); Chồng phải yêu thương vợ (Ê-phê-sô 5:25-29; I Phi-e-rơ 3:7; Vợ chồng không nên phân rẽ (ICô 7:10-16; Ma-thi-ơ 19:6); kỹ năng sử dụng tiền bạc v.v…
            Kết hôn
Quan niệm của người Cơ đốc đối với hôn nhân,
“Hôn nhân Cơ đốc nằm trong chương trình, kế hoạch của Đức Chúa Trời nên phải cẩn thận tìm biết ý Chúa. Tiêu chuẩn chọn lựa: về Đức tin: Cùng đức tin và kính sợ Chúa. Cảm xúc: yêu nhau thật. Lý trí: xem xét và thống nhât một số giá trị, nguyên tắc, quan điểm chung.”[12]

Vài khía cạnh khác nhau giữa hôn nhân Cơ đốc và phi Cơ đốc, thời phong kiến, có quan niệm “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đó” nhưng ngày nay quan niệm đó không còn thích nghi nữa!. Ông bà cha mẹ chúng ta không phải hoàn toàn vô lý khi có quan niệm buộc con cái phải đi theo ý hướng của mình trong việc lập gia đình. Với lập luận đáng để cho chúng ta suy nghĩ như quan niệm “Mua heo chọn nái, mua gái chọn dòng” hay “Cha nào con nấy”. Khi phân tích kỹ, chúng ta mới thấy rằng ông bà xưa đã tích lũy hằng bao nhiêu kinh nghiệm để có được triết lý đó. Thật ra cha mẹ ảnh hưởng rất nhiều trên đời sống của con cái, tục ngữ có câu: “Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”. Một Triết Gia Tây Phương nói: “Thành phần xuất thân ảnh hưởng đến quá trình phát triển nhân cách”. Thường tình trong cuộc sống, người thế gian muốn dựng vợ gã chồng cho con cáí, họ hay đắn đo trước những vấn đề thực tế, họ có khuynh hướng chọn lựa theo các tiêu chuẩn sau: Sắc đẹp, địa vị, tiền tài, danh vọng... đôi khi lại còn có ẩn ý gì phía sau cuộc hôn nhân đó, như có ích lợi gì không!... Như vậy khi hôn nhân được thành hình trên quan niệm duy lý thì lấy gì để bảo đảm vững bền khi gặp lúc trống đánh xuôi, kèn thổi ngược, sóng gió cuộc sống mang đến. Đối với hôn nhân Cơ Đốc, những lý lẽ dường như có lý nêu trên, chưa phù hợp với Cơ Đốc nhân vì cơ sở để chọn lựa bạn đời là tìm kiếm người phối ngẫu đặt trên tình yêu không vụ lợi, không xét đoán, Chúa làm chủ.
Vài khía cạnh giống nhau giữa hôn nhân Cơ đốc và phi Cơ đốc, đối với người đời cũng như người trong Chúa. Hôn nhân trước hết cần phải có tình yêu xuất phát tự con tim, tận trong cõi lòng sâu thẳm của mỗi người. Chính tình yêu là yếu tố căn bản đầu tiên giống như chiếc cầu nối liền hai bên bờ của một dòng sông.
Nền tảng Kinh Thánh về hôn nhân
 Hôn nhân do Đức Chúa Trời thiết lập, Thánh Kinh cho chúng ta biết rằng, hôn nhân không phải là sáng kiến của con người mà là một định chế do Đức Chúa Trời thiết lập. Sau khi tạo dựng nên ông A-đam, Ngài tuyên bố: “Loài người ở một mình thì không tốt, ta sẽ làm nên một kẻ giúp đỡ giống như nó”. Sau đó Chúa dựng nên bà Ê-va và ban phước cho hai người. Sáng thế ký 2:24 ghi: “Bởi vậy cho nên, người nam sẽ lìa cha mẹ mà dính díu cùng vợ mình, và cả hai sẽ nên một thịt”. Điều này cho thấy hôn nhân có những đặc điểm sau: (1) là sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ, (2) là sự kết hợp toàn vẹn vì vợ và chồng hợp làm một, (3) Con người không được chia rẽ cuộc hôn nhân.
            Đến với nhau bằng tình yêu tuyệt đỉnh, đây không phải là tình yêu xác thịt hay tính dục, mà là thứ tình yêu vượt lên trên tất cả cảm xúc của con người để sống theo nguyên tắc mà Đức Chúa Trời muốn con người sống. Đó là sự quan tâm, chăm sóc, để ý tới người chung quanh mình, mà người bạn đời là một trong những người gần gũi nhất, giống như tinh thần của Ga-li-ti 6:2[13].
            Tiền trong đời sống gia đình, đời sống hôn nhân cần có tình yêu là tiêu chí hàng đầu. Tuy nhiên, không thể tách rời khỏi cuộc sống đời thường, nên vợ chồng phải cộng tác với nhau để lập ngân sách chi tiêu cho gia đình để đáp ứng cho nhu cầu cuộc sống, tránh nạn nợ nần vì chi tiêu không kế hoạch, khoản khác cũng cần chú ý đến là chi phí giao tế họ hàng, bạn bè trong những ngày lễ tết, làm quà biếu v.v… Nhưng tiền không thể giải quyết mọi nan đề. “Mê tham tiền bạc là chuốc họa vào thân, cuối cùng cũng dẫn đến thất vọng và thậm chí gây ra tội ác chứ không đem lại hạnh phúc và thành công (Châm 28:20). Trái lại hạnh phúc và thành công nhiều tiền bạc liên hệ chặt chẽ với tính rộng lượng, tinh thần tha thứ, nhiều mối quan hệ khác nhất là đối với Đức Chúa Trời.”[14]

Chìa khóa hạnh phúc cho gia đình Cơ Đốc nhân
            Bí quyết thứ nhất: Tình yêu thương. 1Giăng 4:8 “Đức Chúa Trời là sự yêu thương”, “Tình yêu thương che lấp mọi tội lỗi”(1Phi-e-rơ 4:8b). Có được tình yêu của Chúa đó là yếu tố căn bản cho mọi mối quan hệ của hạnh phúc gia đình. Có một bài thơ ví tình nghĩa vợ chồng giống như sự khắng khít của hai chiếc dép của Nguyễn Trung Kiên, đăng trong Tạp chí Hướng đi số 20.[15]
Bí quyết thứ hai: Tôn trọng nhau. Tôn trọng là quan tâm đến người phối ngẫu của mình và coi trọng họ. Lời của Đức Chúa Trời khuyên tất cả chúng ta “Hãy lấy lẽ kính nhường nhau” (Rô-ma 12:10b). Nếu là kẻ làm chồng thì không thể coi thường miệt thị vợ mình, đối xử thô bạo cũng như ăn nói sỗ sàng sẽ dẫn đến sự gãy đổ. Câu chuyện sau đây là bằng chứng cụ thể của sự thất bại, dành cho những ai không biết kính trọng người phối ngẫu của mình:

Có một bà mới được chồng bảo lãnh qua Mỹ được vài tháng, tiếng Anh không hiểu. Khi chồng đi làm về, bà đem vài bức thư của bưu điện cho chồng xem, bà nói: Nhờ anh coi hộ họ nói cái gì đây? Người chồng trả lời: “Sao bà ngu quá vậy”, thì mấy tờ quảng cáo chứ cái gì? Kể từ đó người vợ không hề hỏi chồng một điều gì nữa. Bà ghi danh đi học đại học và miệt mài bốn năm. Sau đó bà đi làm và bà li dị chồng chỉ vì câu nói: “Sao bà ngu quá?”[16] 

“Tân Ước không dạy người đàn bà thấp kém hơn đàn ông, chẳng chia ra hoặc v.v… nam hay nữ, vì anh em thảy đều là một trong Christ. Sự làm đầu của người chồng là một vấn đề trách nhiệm và trật tự của cấu trúc tổ chức vì mỗi cộng đồng đều có sự lãnh đạo và Đức Chúa Trời đã chọn người chồng làm người lãnh đạo trong gia đình.”[17]

Bí quyết thứ ba: Bổn phận của vợ chồng. Đối với người đàn ông tốt bụng và khôn ngoan, không chọn vợ ở vẻ đẹp bề ngoài vì cái đẹp hình thể sẽ phai tàn theo năm tháng, nó cũng không phải là yếu tố tối cần thiết để có được một gia đình êm ấm, nhưng đôi khi chính cái đẹp lại là nguyên nhân của những đổ vỡ làm tan nát gia đình. Người vợ mà Đức Chúa Trời tạo dựng từ buổi đầu sáng thế từ xương thịt của A-dam, là người vợ dịu dàng để giúp đỡ (Sáng Thế ký 2:18), chứ không phải kẻ để mà cạnh tranh.
            Bổn phận của người chồng: Theo sự dạy dỗ của Thánh Kinh ở Ê-phê-sô 5:25-31[18], chúng ta tìm hiểu thêm phần Kinh Thánh khác nữa là: “Hỡi người làm chồng, hãy tỏ điều khôn ngoan ra trong sự ăn ở với vợ mình, như là với giống yếu đuối hơn, vì họ cùng anh em hưởng phước sự sống, nên phải kính nể họ, hầu cho không điều gì làm rối loạn sự cầu nguyện của anh em” (I Phi-e-rơ 3:7). Trong nguyên tác của Thánh Kinh, nhóm chữ “như là với giống yếu đuối hơn”, có nghĩa như là người giúp việc có thể chất yếu đuối hơn. Mệnh lệnh khác được nhắc lại trong Cô-lô-se 3:19[19]. Để bảo vệ hạnh phúc gia đình có những đề nghị cho ông: Nên cảm thông và nhẫn nại bằng cách chịu khó lắng nghe, lắng nghe 5, 10 phút, hơn là phải bị nghe cả ngày khi bà giận lên vì sự thiếu quan tâm của ông đối với vấn đề bà nêu ra. Nên có quà cho bà vào những dịp đặc biệt như sinh nhật, tránh gây sự hiểu lầm, thỉnh thoảng nên tìm cách khen tài nội trợ của vợ…

            Người chồng phải yêu thương và thông cảm với vợ. Từ thông cảm không có nghĩa là chồng cảm thấy tiếc vì việc đó xảy ra cho vợ mình, nhưng có nghĩa là phải lo lắng, quan tâm không nên trách móc, cư xử không tốt hay cay nghiệt với vợ.[20] Con người ai cũng có những điều thiếu sót cũng như những điều bất toàn, nên khi chúng ta sống với nhau, vợ chồng phải tập chấp nhận sự yếu đuối của nhau. Chấp nhận có nghĩa là bỏ qua, đừng chú ý dến những lỗi lầm, sơ sót của nhau. Đừng chỉ trích, cũng đừng đòi hỏi người kia phải tốt đẹp, toàn hão.[21]

Bổn phận của người vợ, theo sự dạy dỗ của Thánh Kinh ở Ê-phê-sô 5:22-24 [22]. Mệnh lệnh của Chúa đối với người làm vợ, là vợ phải vâng phục chồng trong mọi sự như vâng phục Chúa. Lý do vợ phải vâng phục chồng, là vì đàn bà được dựng nên từ đàn ông và để giúp đỡ cho đàn ông [23]. Đây là sự trật tự của Chúa, trong đó: Vợ vâng phục chồng, con cái vâng phục cha mẹ, Hội Thánh vâng phục Đấng Christ. Tuy nhiên, không có nghĩa là người chồng có quyền cai trị vợ như một lãnh chúa độc tài. Mà chồng đối với vợ phải phát xuất từ tình yêu, vì ích lợi của vợ và con cái, cũng vì hạnh phúc gia đình mình nữa. Về phía người chồng, khi tiếp nhận sự vâng phục tuyệt đối của vợ đối với mình, thì cũng học được cách thức chính mình phải vâng phục Chúa trong mọi sự để làm gương cho vợ. Sự vâng phục Đấng Christ cần phải bắt đầu từ trong mỗi một gia đình của con dân Chúa.
Lời Chúa trong sách Châm Ngôn dạy rất nhiều về trách nhiệm người vợ, bà nên đọc và học để làm theo: Châm ngôn 18:22, cho biết bà làm một người vợ thì bà là một điều phước cho người chồng; 31:10-19, người vợ phải biết quản trị công việc sinh hoạt trong gia đình, làm ích cho chồng (câu 12); 31:20-24, người vợ phải biết đối xử tốt với người chung quanh; 31:25-28, người vợ là người biết quan tâm đến con cái, quan tâm đến chồng. Tục ngữ Việt nam có những câu như: “Vợ ngoan làm quan cho chồng”, (không phải là của chồng); người Việt gọi người vợ trong nhà là nội tướng, (vị chỉ huy bên trong). Nhiều phụ nữ ngày nay đã bỏ qua trách nhiệm làm người nữ trong gia đình! Do họ đòi “bình quyền”. Phải biết rằng, tâm lý của người chồng bao giờ cũng thích sự săn sóc của chính người vợ hơn là tìm người giúp việc. Hạnh phúc gia đình một phần do việc ẩm thực, xếp đặt nhà cửa. Người vợ cũng nên lưu ý cách ăn mặc, trang điểm, không phải là trang sức lòe loẹt, nhưng cần gọn gàng. Người nam nào cũng thích có người vợ đẹp tính, đẹp nết.

            Phỏng vấn bà: Trần Hạnh Thúy, phường 5, quận 5, Tp.HCM Tháng 11/2017. – Thưa bà, theo bà bí quyết sống thế nào để vợ chồng có hạnh phúc? Bà Thúy cho rằng: Tôi sống rất đơn giản và chồng tôi cũng thế, chỉ có thành thật với nhau trong mọi sự là không có chuyện gì xích mích xảy ra, vì ông chả dối bà việc gì, bà cũng thế việc chi cũng to nhỏ bảo nhau. Cả hai không phát hiện điều chi khuất lấp khiến dẫn đến sự mất tin tưởng. Mọi việc khác cứ dung hòa mà sống. Thành thật với tất cả mọi người và quan trọng là thành thật với chính bản thân mình chính là cách tốt nhất để bạn có thể vượt qua mọi khó khăn, thử thách, mọi nỗi buồn trong cuộc sống. Dù bạn có lẩn tránh sự thật thì sự thật vẫn cứ là nó.[24]

Con cái là cơ nghiệp từ Đức Chúa Trời ban cho: “Kìa, con cái là cơ nghiệp bởi Đức Giê-hô-va mà ra; Bông trái của tử cung là phần thưởng”[25]. Con cái là cơ nghiệp ra từ Đức Chúa Trời, một phương thức bảo tồn gia đình bằng thế hệ kế tiếp. Chẳng có khoái lạc nào trong cuộc sống có thể sánh bằng khoái lạc nhìn thấy con ruột của mình lớn lên. Cha mẹ không nên dễ dàng dung túng cho những sự không vâng lời trong những năm đầu đời của trẻ, nếu họ muốn kiểm soát chúng ở những năm tuổi thanh niên.
Dạy con em học Kinh Thánh:  Sách Các Quan Xét 2:10-15 ghi lại một bài học cho các phụ huynh trong nhu cần phải dạy con em của mình học Kinh thánh, Lời Chúa phán rằng: “Hết thảy người đời ấy cũng được tiếp về cùng tổ phụ mình, rồi một đời khác nổi lên, chẳng biết Đức Giê-hô-va, cũng chẳng biết các điều Ngài đã đã làm nhơn vì Y-sơ-ra-ên”. Người đời ấy là những người đã nếm trải ơn cứu rỗi của Chúa ban cho họ, đem họ ra khỏi kiếp nô lệ tại Ai Cập, dẫn dắt họ bốn mươi năm trong đồng vắng, đưa họ vào đất hứa, bây giờ họ qua đời để lại một thế hệ mới không biết Chúa, không biết những công việc kỳ diệu mà Chúa đã làm để cứu tổ phụ họ, cho họ hưởng được cuộc sống tươi đẹp trù phú hiện nay. Tại sao? Câu trả lời là vì họ không được dạy dỗ về Lời Chúa. Chúng ta hãy xem hậu quả của thế hệ không có Lời Chúa và không được dạy về Đức Chúa Trời: - 2:11, làm ác, bỏ Đức Chúa Trời là chân thần, thờ lạy hình tượng, tà thần; - 2:14-15, thế hệ vô tín đó bị Đức Chúa Trời hình phạt. Kết quả là Kinh thánh đã có sách Các Quan Xét với ít nhất bảy lần tường thuật cảnh dân Chúa làm nô lệ cho các dân chung quanh, rối loạn suýt chút nữa bị tiêu diệt (2:2-16).
            Quan tâm con trưởng thành: Sứ đồ Phao-lô khen hai người đàn bà là Lô-ít và Ơ-nít, là bà và Mẹ của Ti-mô-thê. Hai người phụ nữ nầy đã biết dạy con cháu của họ về đức tin bằng chính đời sống của họ. Nói cách khác, Ti-mô-thê nên người hữu dụng cho hội thánh của Đức Chúa Trời, trở thành người hầu việc Chúa là nhờ sự dạy dỗ của bà và mẹ. đây là bài học làm gương đời sống đức tin của Lô-ít và Ơ-nít, phụ huynh nên nêu gương trung tín học Kinh thánh trước thì mới có thể dạy con em mình học Kinh thánh. Thánh Phao-lô đã để lại cho chúng ta một gương, ông đã cầu nguyện cho con nuôi hay con đức tin của ông là Ti-mô-thê (II Ti-mô-thê 1:3), dù lúc bấy giờ Ti-mô-thê đã làm một mục sư tại thành Ê-phê-sô, còn cá nhân Phao-lô thì sắp bị tử hình.
Đời người tuổi từ 14 đến 21 là tuổi hay mơ mộng, tâm trí có nhiều mong muốn giống người nầy người kia, thần tượng hóa điều mình thích. Cha mẹ biết như vậy để làm gì? Ngoài việc chánh yếu là cầu nguyện cho con, cần phải có hành động quan tâm đến phần tâm hồn, tâm lính, chứ không chỉ duy nhất lo cho con về phần vật chất mà thôi. Dạy con ở lứa tuổi này phải nhẹ nhàng, thông cảm, nên làm một người bạn vong niên để chia sẻ tâm tư tình cảm, giải quyết kịp thời nan đề xảy đến. Không nên cứng ngắt, ra lệnh con phải làm thế này hay thế kia. Vì nguy cơ thất bại trong việc dạy con sẽ cao hơn là làm người bạn.
Con cái là niềm hy vọng của gia đình: Con cái của chúng ta là những ân điển đến từ Đức Chúa Trời, Chúa Giê-su công bố rằng “Hễ ai vì danh ta chịu tiếp một đứa trẻ thể nầy, tức là chịu tiếp ta”[26]. Con cái ra từ tay của Đức Chúa Trời, là những ân điển được gửi đến đất từ trời, một phương thức bảo tồn gia đình bằng thế hệ kế tiếp. Không một ai bị nói là đã sống vô ích khi để lại con cái biết kính mến Chúa và bước theo dấu chân Ngài, điều đó không do tình cờ mà chính cha mẹ phải mài nhọn chúng giống như các mũi tên rồi ngắm cho chúng theo một hướng đúng đắn.

            Phỏng vấn cô Trần Thị Lệ Quyên[27] về việc dạy con có nên đánh trẻ không? Đối với cô Lệ Quyên là làm sao để dạy dỗ con cái tốt nhất là công việc khó. Kinh Thánh nói gì?, “Chớ tha sửa phạt trẻ thơ; Dầu đánh nó bằng roi vọt, nó chẳng chết đâu. Khi con đánh nó bằng roi vọt, ắt giải cứu linh hồn nó khỏi âm phủ”[28]. Kinh Thánh nhấn mạnh về tầm quan trọng của kỷ luật, đó là điều bắt buộc phải có trong việc đào tạo nên con người. Con cái không có kỷ luật thường xuyên lớn lên bất trị, không tôn trọng người khác, không tôn trọng nhà cầm quyền và hậu quả dễ thấy chúng hay làm theo ý riêng của chúng và khó hướng về và đi theo Chúa. Chính Đức Chúa Trời dùng những kỷ luật để sửa dạy chúng ta và dẫn dắt chúng ta vào đường ngay thẳng và khuyên giục chúng ta ăn năn những việc làm sai quấy.[29] Phần cha mẹ không được chọc giận con cái. [30] Nuôi dạy con cái trong sự huấn luyện và hướng dẫn của Chúa, bao gồm những hành động như: Nén giận, sửa dạy, và yêu thương.

            Kết luận
            Chúng ta phải nắm bắt lấy giá trị cao của gia đình, về mối hôn nhân một chồng một vợ, về sự tiết độ trước hôn nhân và về một đời sống cùng nhau hưởng phước hạnh sau hôn nhân. Chúng ta phải dạy dỗ con cái của chúng ta bằng tình yêu chân thật, bằng chức năng làm mẹ là một sự kêu gọi cao thượng, bằng một người cha tin kính thì quan trọng hơn là làm một người cứ mãi lo chuyện giao tế bên ngoài gia đình, cứ mãi lái xe sang trọng, tiệc tùng và ngồi trong văn phòng có máy lạnh đóng kín. Phải biết rằng con cái chúng ta thì có giá trị hơn mọi thứ tình cảm, mọi sự nổ lực, và mọi đầu tư của thì giờ và tài nguyên của chúng ta để kiếm vật chất đời này.
Hôn nhân là do Đức Chúa Trời thiết lập, một định chế xã hội trong thế gian, một cuộc sống có trật tự, có trật tự để phát triển. Chúa Giê-su đã cầu nguyện với Cha trên trời “Con không cần Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng cứu họ tránh khỏi điều ác. Chúa Giê-su không có tư tưởng đem Cơ Đốc nhân sống tách biệt với xã hội mà phải hòa nhập với xã hội để là ánh sáng cho đời, đem tình yêu thương đến những tấm lòng lạnh lẽo. Cơ Đốc nhân cần có một tâm tình ban ra hơn là cứ ích kỷ thu vén mọi thứ của cải vật chất đời này vào cho mình, để cuối cùng những thứ hay ten rét này rồi cũng phải để lại cho người khác khi mình qua đời.
Hãy yêu người lân cận, người lân cận gần nhất là những thành viên ở quanh mình, một sự kết nối có tính cách riêng tư giữa hai người (vợ - chồng), để sanh ra bông trái của tử cung (con cái), từ đó mục đích sống của hai người sống càng có ý nghĩa hơn. Hạnh phúc lứa đôi ở trong tầm tay của mỗi người, của mỗi gia đình có chung tiếng nói, chung ý tưởng, chung niềm tin v.v… Có nhiều điểm chung thì cơ hội xung đột sẽ giảm đi, giá trị bền vững gắn kết nhau bởi tình yêu có cơ hội cho các cá thể có thể sống êm đềm chung một mái nhà, đó là một gia đình có niềm hạnh phúc thật sự. Gia đình là tế bào căn bản của đời sống xã hội, là cộng đoàn nơi đó từ thời thơ ấu, con người được học biết tôn trọng những giá trị luân lý, tôn thờ Thiên Chúa và con trẻ là thế hệ tương lai.
            Kinh Thánh cho biết “nhìn cây biết trái, nhìn vào việc làm để biết con người” (Mat Ma-thi-ơ 7:16-20,12:33). Hôn nhân do Đức Chúa Trời thiết lập, Ngài là sự yêu thương[31]. Thể hiện sự yêu thương trong đời sống thường ngày, đó là điều cần thiết, để qua đời sống hàng ngày của chính mình cho người khác nhìn vào để thấy sự ấm áp, những người trong gia đình lo lắng cho nhau cách hết lòng, đó là cách sống làm gương, làm muối cho đất và ánh sáng cho thế gian.
Kinh Thánh cho biết rằng muốn có một gia đình hạnh phúc thì vợ chồng phải có đồng một tâm tình, đồng tư tưởng, và đồng một tín ngưỡng (A-mốt 3:3). Đời sống Cơ Đốc nhân và người ngoại đạo là vô cùng khác biệt không thể hòa hợp được, sẽ gây xáo trộn trong gia đình và dễ dàng đưa đến đổ vỡ (II Cô-rinh-tô 6:14-18).
                                                                                      




Thư mục (Bibliography)

Cơ Đốc Giáo Dục Tập Giáo Viên. Thánh Kinh Căn Bản năm thứ hai. Sách             
     lưu hành nội bộ của Tổng Liên Hội Hội Thánh Tin Lành Việt nam –      
     Miền Nam.

Dorothyl L.Johns, Giải Quyết Những Nan Đề Cuộc Sống, International Correspondence Institute, Fist Edition 1982, Reprinted 1988.

Đời Sống Mới,  Văn phẩm Nguồn Sống ấn hành.

Hôn Nhân & Gia Đình Tập Giáo Viên, Thánh Kinh Căn Bản năm thứ tư.
       Sách lưu hành nội bộ của Tổng Liên Hội Hội Thánh Tin Lành Việt   
       nam – Miền Nam.

Kinh Thánh, Bản Truyền Thống, (Việt Nam: Nhà Xuất bảnTôn Giáo, 2011).

Joyce Meyer, Hãy Cầm Giữ Môi Miệng Bạn! (Không NXb, Không NXB).


Tạp chí
Cố MS Phạm Xuân Tín, Tạp Chí Hướng Đi. Số 20
“Sáu bí quyết thành công thật”, Tạp chí Tỉnh thức. Quí I/2009, 6


Các clink

Bí quyết để sống hạnh phúc, [on-line], truy cập ngày 22/11/2015, từ http://www.baomoi.com/Bi-quyet-de-song-hanh-phuc/139/11718615.epi http://nuoctroi.com/?q=node/6808, Internet.

Vì Sao Án Ly Hôn Ngày càng Tăng, [on-line], truy cập ngày 12/12/2016, từ http://tuphap.wordpress.com/2011/09/27/vi-sao-an-ly-hon-ngay-cang-tang/ , Internet.


[1] (Sáng 1:28)
[2] Nguyễn Quốc Sử, Vì sao án ly hôn ngày càng tăng, [on-line], truy cập ngày 12/12/2013, từ http://tuphap.wordpress.com/2011/09/27/vi-sao-an-ly-hon-ngay-cang-tang/
[3] Kinh Thánh nói gì về việc ly dị và tái hôn? [on-line], truy cập ngày 12/12/2013, từ http://www.gotquestions.org/Viet/Viet-divorce-remarriage.html
[4] (Ma-thi-ơ 19:6)
[5] Cơ Đốc Giáo Dục Tập Giáo Viên, Thánh Kinh Căn Bản năm thứ hai, Sách lưu hành nội bộ của Tổng Liên Hội Hội Thánh Tin Lành Việt nam – Miền Nam, 49.
[6] (Ê-phê-sô 6:4)
            [7] “Ban ra thì có phước hơn nhận lãnh” (CV 20:35)
[8] (Mat-thi-ơ 19:4–6)
[9] (Ma-la-chi 2:16a)
[10] Đời Sống Mới, Văn phẩm Nguồn Sống ấn hành, 58.
[11] Ma-la-chi 2:13-16; Sáng Thế ký 2:22-24; Rô-ma 7:2; I Cô-rinh-tô 7:10-11.
[12] Hôn Nhân & Gia Đình Tập Giáo Viên. Thánh Kinh Căn Bản năm thứ tư. Sách lưu hành nội bộ của Tổng Liên Hội Hội Thánh Tin Lành Việt nam – Miền Nam, 21.

[13]“Hãy mang lấy gánh nặng cho nhau, như vậy anh em sẽ làm trọn luật pháp của Đấng Christ.” (Ga-li-ti 6:2)
[14] Sáu Bí Quyết Thành Công Thật, Tạp chí Tỉnh thức, Quí I/2009. 6.
[15]                … Không thể thiếu nhau trên mọi bước đời
                        Dẫu mỗi bước ở một bên phải trái
                        Nhưng anh yêu em ở những điều ngược lại
                        Gắn bó đời nhau một bước đi chung.
               Hai mảnh đời thầm lặmg bước song song
               Sẽ dừng lại khi chỉ còn một chiếc
               Chỉ còn một là không còn gì hết
             Nếu không tìm được một chiếc thứ hai kia (Nguyễn Trung Kiên, Tạp Chí Hướng Đi, số 20)
[16] Cố MS Phạm Xuân Tín. Tạp Chí Hướng Đi. Số 20.
[17] Dorothyl L.Johns, Giải Quyết Những Nan Đề Cuộc Sống, International Correspondence Institute, Fist Edition 1982, Reprinted 1988. 106.
[18] “Chồng phải yêu vợ như chính thân mình. Ai yêu vợ mình thì yêu chính mình vậy. Vì chẳng hề có người nào ghét chính thân mình, nhưng nuôi nấng săn sóc nó như Đấng Christ đối với Hội Thánh, vì chúng ta là các chi thể của thân Ngài. Vậy nên người đàn ông phải lìa cha mẹ mà dính díu với vợ mình, hai người cùng nên một thịt.” (Ê-phê-sô 5:25-31)
[19] “Hỡi kẻ làm chồng, hãy yêu vợ mình, chớ hề ở cay nghiệt với người” (Cô-lô-se 3:19)
[20] Joyce Meyer, Hãy Cầm Giữ Môi Miệng Bạn! (Không NXB, Không NXB). 141.
[21] 10 bí quyết để có cuộc sống gia đình hạnh phúc, [on-line], truy cập ngày thứ sáu,  22/11/2013, từ http://nuoctroi.com/?q=node/6808. Internet.
[22] "Hỡi kẻ làm vợ, phải vâng phục chồng mình như vâng phục Chúa, vì chồng là đầu vợ, khác nào Đấng Christ là đầu Hội thánh, Hội thánh là thân thể Ngài, và Ngài là Cứu Chúa của Hội thánh. Ấy vậy, như Hội thánh phục dưới Đấng Christ, thì đàn bà cũng phải phục dưới quyền chồng mình trong mọi sự." (Ê-phê-sô 5:22-24)
[23] “Bởi chưng không phải đàn ông ra từ đàn bà, bèn là đàn bà ra từ đàn ông; không phải đàn ông vì cớ đàn bà mà được dựng nên, bèn là đàn bà vì cớ đàn ông vậy.” (I Cô-rinh-tô 11:8,9)
[24] Tiến Thành, Bí quyết để sống hạnh phúc, [on-line], truy cập ngày 25/12/2013, từ http://www.baomoi.com/Bi-quyet-de-song-hanh-phuc/139/11718615.epi, Internet.
[25] (Thi thiên 127:3)
[26] (Ma-thi-ơ 18:5).
[27] Cô Lệ Quyên là người thành lập mái ấm nuôi trẻ mồ côi tại quận Tân Bình.
[28] Châm Ngôn 23:13-14; cũng xem 13:24; 22:15; 20:30.
[29] Thi Thiên 94:12; Châm ngôn 1:7; 6:23; 12:1; 13:1; 15:5; Ê-sai 38:16; Hê-bơ-rơ 12:9
[30] (Ê-phê-sô 6:4)
[31] (1 Giăng 4:8)