Thứ Hai, 10 tháng 8, 2020

DẠY CHO TRẺ THƠ CON ĐƯỜNG NÓ PHẢI THEO

 “Hãy dạy cho trẻ thơ con đường nó phải theo, dù khi nó trở về già cũng không hề lìa khỏi đó” (Châm Ngôn 22:6). Động từ “dạy”, chỉ sự hướng dẫn đầu tiên mà người làm cha, mẹ cung cấp cho con cái của mình. Sự huấn luyện được vạch rõ ràng cho chúng cách cư xử trong cuộc sống mà chúng được chuẩn bị như sự lễ phép, trung tín, nhẫn nhịn... Bắt đầu giáo dục sớm cho con cái là một việc làm hết sức cần thiết và đó là thể hiện trách nhiệm của bậc làm cha, mẹ trong việc phát triển nhân cách của con mình.

          Gương mẫu của cha mẹ đối với con cái

          Thầy Mạnh Tử thuở nhỏ nhà ở gần nghĩa trang, thấy người ta đào huyệt, chôn, lăn khóc. Về nhà cũng bắt chước đào, chôn, lăn khóc. Bà mẹ thấy thế nói: Chỗ nầy không phải chỗ con ta ở được. Rồi dọn nhà ra gần chợ, thấy người buôn bán giành mối nhau, chửi bới nhau, về nhà cũng bắt chước cách nói năng thô tục. Bà mẹ thấy thế lại nói: Chỗ nầy cũng không phải chỗ con ta ở được. Bèn dọn nhà đến ở cạnh trường học. Thầy Mạnh Tử ở gần trường học, thấy trẻ đua nhau học tập lễ phép, cắp sách vở, về nhà cũng bắt chước học tập lễ phép, cắp sách vở. Bấy giờ bà mẹ mới vui lòng nói: Chỗ nầy là chỗ con ta ở được.

          Một hôm, thầy Mạnh Tử thấy nhà láng giềng giết lợn, về hỏi mẹ: Người ta giết lợn làm gì thế?.  Bà mẹ nói đùa: Để cho con ăn đấy. Nói xong, bà nghĩ lại, hối rằng: Ta nói lỡ lời rồi. Con ta thơ ấu, trí thức mới mở mang mà ta nói dối hay sao? Rồi bà đi mua thịt lợn, đem về cho con thật. Lại một hôm thầy Mạnh Tử đang học, bỏ học về nhà chơi. Bà mẹ đang ngồi dệt cưởi; trông thấy, liền cầm dao cắt đứt tấm vải đang dệt trên khung, mà nói rằng: Con đang đi học, mà bỏ học, thì cũng giống mẹ đang dệt tấm vải nầy mà cắt đứt đi vậy. Từ hôm đó, thầy Mạnh Tử học tập rất chuyên cần. Rồi sau thành một bậc đại hiền, thế chẳng là nhờ có cái công giáo dục quý báo của mẹ hay sao?

          Dạy con biết lễ phép

         

Lễ phép là phẩm chất cần có trong mối quan hệ giao tiếp, giúp giảm những mâu thuẫn và tạo mối quan hệ hài hòa giữa người với người. Theo chuyên gia giáo dục Ngô Hải Khê: Thời kỳ trẻ từ 0 đến 6 tuổi được coi là thời kỳ nhạy cảm nhất, thời kỳ phát triển nhanh nhất của trẻ do não bộ phát triển mạnh, nên trẻ học hỏi và tiếp thu rất nhanh vì vậy, trách nhiệm của cha mẹ là phải tạo môi trường phù hợp để trẻ được phát triển toàn diện.

          Có một số cha, mẹ tỏ ra bàng quan với tính tình của trẻ, họ cho rằng một số thái độ, lời nói vô lễ là sự tự nhiên, con còn nhỏ nên chưa biết gì, khi lớn lên sẽ khác đi. Thực chất, trẻ rất cần bồi dưỡng, rèn luyện tính tình từ khi còn thơ ấu. Lễ phép cũng là khởi đầu việc trẻ học làm người, là một trong những tố chất cơ bản giúp trẻ đạt được thành công trong công việc khi trẻ lớn lên.

Trong cuộc sống, các bậc cha mẹ thiếu đi các yếu tố sau thì không thể nào dạy con trẻ thành công được đó là: Yêu thương, Kiên nhẫn, Trò chuyện và Khen ngợi. Những điều đó cha mẹ nào cũng có thể cho con cái mình, có khác chăng là cách mà mỗi cha mẹ làm mà thôi. Từ 0-3 tuổi là giai đoạn mà tất cả những gì trẻ được tiếp nhận, được dạy sẽ được lưu giữ và hấp thụ hoàn toàn trong ý thức của não, thời kỳ này không một ai có thể thay thế được vị trí và vai trò của người mẹ. Từ 3 – 6 tuổi kỹ năng tư duy của trẻ được phát triển. Một triết gia phương Tây nói rằng: “Thành phần xuất thân ảnh hưởng đến quá trình phát triển nhân cách.” Cho thấy rằng môi trường giáo dục trẻ cũng cần được chú ý đến.

          Luôn gần gũi con trẻ

Từ 4 – 6 tuổi, hãy tập cho trẻ giúp việc lặt vặt trong nhà, đây cũng là một cách giúp trẻ vận động và luyện kỹ năng cầm nắm, xử lý đồ vật. Thường xuyên khen ngợi mỗi khi trẻ giúp mình làm việc. Cũng có nhiều bà mẹ không để cho trẻ làm, vì nghĩ trẻ con còn nhỏ chưa biết gì, nên để trẻ chơi một mình hay giao trẻ làm bạn với điện thoại, các game vô cảm, còn mình thì bận rộn! Đây là, suy nghĩ sai lầm vì đã làm lỡ dịp dạy trẻ luyện kỹ năng làm việc, tuy nhiên, công việc phải phù hợp cho trẻ. Mẹ cùng bé làm việc mang lại lợi ích là vừa giúp mình giảm gánh nặng, tâm tình mẹ con gần gủi hơn và là một cách dạy trẻ học tập trực tiếp-cầm tay chỉ việc, kịp thời chấn chỉnh những sự sai sót. Qua việc tiếp xúc thường xuyên với con những kỹ năng được phát triển tốt như: khả năng sử dụng ngôn ngữ sẽ được rèn luyện, diễn đạt chính xác cảm xúc của mình, giao tiếp, ứng phó tình huống, giúp trẻ hướng thiện, biết yêu thương, đặc biệt là trẻ biết cư xử lễ phép….

Hãy để trẻ quyết định mọi việc liên quan đến bản thân như ăn gì, mặc gì. Trẻ có làm gì sai hay thất bại thì cũng không nên la mắng mà nên dùng lời dễ hiểu phân tích, khuyến khích cho trẻ làm lại và cũng hãy tích cực trả lời những câu hỏi của con. Dạy cho con trẻ con đường nó phải theo là một đề tài mà từ xưa đến nay các bậc làm cho mẹ không hề xao lãng. Trẻ con không phải là một người lớn thu nhỏ, tục ngữ Việt Nam có câu: “Dạy con từ thuở còn thơ”, vai trò giáo dục này quan trọng đến nỗi thiếu sót thì khó lòng bổ khuyết được.

NGỌC HUỆ - DIỆP LỤC TỐ


 

Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2020

GIẢI QUYẾT MỆT MỎI VÀ GÁNH NẶNG

 Kính thưa Quý vị!

Nếu Quý vị đang cảm thấy mệt mỏi vì những khó khăn trên đời, hôm nay tôi xin chia sẻ với Quý vị một lời mời gọi của Chúa Giê-xu mà có thể sẽ thay đổi đời sống của Quý vị.

Phúc Âm Ma-thi-ơ 11: 28-30 ghi lại lời hứa của Chúa Giê-xu cho những người đang cảm thấy mệt mỏi và gánh nặng như sau:

28 Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ.
29 Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường; nên hãy gánh lấy ách của ta, và học theo ta; thì linh hồn các ngươi sẽ được yên nghỉ.
30 Vì ách ta dễ chịu và gánh ta nhẹ nhàng.


CÂU GỐC: “Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ.” (Ma-thi-ơ 11: 28)

Chúng ta nghiên cứu hai phần:

I.             Vấn đề: Mệt mỏi và gánh nặng 

Và phần thứ 2 là GIẢI PHÁP của Chúa; giải pháp đó là Chúa kêu gọi Hãy đến cùng với Chúa. Chúa Giê-xu bảo rằng:

II.           Giải pháp: “Hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ.”  

Giờ đây chúng ta xem phần thứ nhất

I.             Vấn đề: Mệt mỏi và gánh nặng 

Trước hết, chúng ta tự hỏi Chúa Giê-xu đang nói chuyện với ai? Câu trả lời đó là: Với “những kẻ mệt mỏi và gánh nặng.”

Chúng ta thấy rằng: Mệt mỏi khác với mệt nhọc.

Mệt nhọc sau một ngày làm việc là bình thường, nhưng mệt mỏi nói đến một tình trạng mệt nhọc kéo dài, có bóng dáng của sự chán nản xuất hiện, gây thiếu ý chí phấn đấu trong công việc. 

* Ở đây, điều Chúa Giê-xu muốn nói là do những hậu quả của những cố gắng của con người để làm cho mình được tốt hơn. Chúng ta cũng bị mệt mỏi trong những cố gắng tìm kiếm tiền tài danh vọng trong xã hội, những gánh nặng lo âu chúng không làm giảm đi những khó khăn, nhưng lại gây mệt mỏi làm giảm đi sức mạnh ngày hôm nay.

* Nhưng quan trọng hơn hết là sự mệt mỏi về phương diện thuộc linh. Như những cố gắng làm việc thiện, cố gắng ăn hiền ở lành để gây công đức; những sự chống trả cám dỗ khiến người ta mệt mỏi và phải làm biết bao nhiêu để biết rằng mình đã làm đủ công đức để hưởng được phước hạnh để tự cứu lấy mình. 

·        Chúng ta xem phần Chúa Giê-xu nói đến “gánh nặng” 

Gánh nặng nó đang đè nặng tấm lòng; khác với “mệt mỏi”, “mệt mỏi” đó là hậu quả của những cố gắng cho tương lai mai hậu! Còn “gánh nặng” là hậu quả của những điều xảy ra trong hiện tại hay quá khứ. Ðặc biệt, là gánh nặng do mặc cảm tội lỗi.

Nói đến tội lỗi, thì có những tội thấy được, định được tội. Có những tội mà không ai biết, nhưng cứ dai dẳng cắn rứt lương tâm của người phạm tội. Có những tội giấu kín chưa ai biết, nhưng người mang nó cứ sợ hãi là một ngày nào đó sẽ có người biết. Những gánh nặng này là những điều làm con người mệt mỏi.

Có ai trong chúng ta trước khi tin Chúa mà không mang những gánh nặng cũng như sự mệt mỏi nói trên? 

Lời kêu gọi của Chúa Giê-xu, “Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng” là bao trùm hết tất cả mọi người, không phân biệt màu da, chủng tộc, ngôn ngữ hay giàu, nghèo. Vấn đề không phải là chúng ta có những gánh nặng trên đời hay không, nhưng có chịu công nhận mình có đang mang gánh nặng hay không. Chúng ta phải có sự thành thật với mình và khiêm nhường với Ðức Chúa Trời để công nhận điều này.

Như vậy giải quyết mệt mỏi và gánh nặng phải làm sao? GIẢI PHÁP CỦA CHÚA GIÊ-XU LÀ: “Hãy đến cùng Ta”, nghĩa là hãy đến cùng Chúa Giê-xu.

II. Giải pháp: “Hãy đến cùng Ta.” 

Khi mang gánh nặng. Có người muốn trút gánh nặng bằng cách đi tìm sự giải trí trong những thú vui trên đời, trong những chén rượu cay hay canh bạc thâu đêm suốt sáng.... Có người trốn đời bằng cách rút lui vào rừng sâu, hay đi chơi xa. Có tôn giáo dạy con người phải ngồi thiền, tĩnh tâm. Có người tìm đến nhà thờ, hay nhóm nhỏ. Nhưng Chúa Jésus bảo mọi người đến với Ngài.

Khi chúng ta đến với Chúa Giê-xu, Ngài hứa chắc chắn, “Ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ.” Sự yên nghỉ ở đây không phải là sự nhàn hạ, trốn chạy khỏi đời, hay “ngồi chơi xơi nước.”

Thưa quí vị! Trong âm nhạc có dấu nghỉ, và tất cả mọi bài hát đều cần có những lúc nghỉ, nhưng những lúc nghỉ này không là sự cuối cùng của bài hát. Không những Chúa chỉ hứa là Ngài sẽ cho chúng ta sự an nghỉ hoàn toàn trong ngày cuối cùng, Ngài cũng hứa là ngay trên thế gian này, Ngài sẽ ban những quán trọ dọc đường, để chúng ta có thể dừng lại, lấy sức tiếp tục bước đi.

 Chúa Giê-xu muốn chúng ta đến với Ngài để có một mối liên hệ mật thiết với Ngài, và chỉ qua mối liên hệ này mà Ngài cất lấy những gánh nặng trên chúng ta. 
 

Có câu chuyện rằng: Có một người mẹ đang mệt nhọc vì phải thức đêm bên cạnh người con bị bịnh. Rồi có một người khác đến tình nguyện trông chừng em bé, để người mẹ có thì giờ nghỉ ngơi. Người mẹ này chỉ có thể giao con, nếu tin rằng người đó sẽ trung tín trông chừng con mình chu đáo, và biết phải làm gì nếu có điều bất trắc xảy ra. 

Cũng vậy, chúng ta chỉ có được sự bình an nếu có sự liên hệ cá nhân mật thiết với Chúa Giê-xu, để biết Ngài, và vì đó có thể tin vào quyền năng và sự thành tín của Ngài. Với niềm tin đó, chúng ta không còn phải đi tìm những điều tạm bợ trên đời, nhưng có sự yên nghỉ vì biết nương cậy vào một ĐẤNG bền chắc vững vàng, chính là Ðức Chúa Trời.

Chúa Giê-xu không tự ý, khống chế để giúp những người không yêu cầu Ngài giúp. Mà Ngài chủ động mời gọi chúng ta đến với Ngài. 

THƯA QUÍ VỊ Chúng ta phải đến với Ngài ngay lúc này, không chần chờ cho đến khi mình thành tốt hơn, hay xứng đáng hơn. Ðến với Ngài không phải là đến với một thượng đế do chúng ta tạo dựng theo sự suy nghĩ của mình, nhưng đến với Ðấng mà Kinh Thánh là Lời của Ngài. Ý nghĩa của việc đến với Chúa cũng không phải do chúng ta định đoạt muốn làm gì thì làm, nhưng bao gồm ít nhất hai điều mà Chúa nói sau đây:

     1) “Hãy gánh lấy ách của Ta” 

Cái ách ở xứ Do thái trong thời Chúa Giê-xu cũng giống như cái ách đôi ở Việt Nam sử dụng. Ðây là vật dụng người ta mang vào cổ con bò (trâu) để nó kéo xe hay cày bừa. Trước hết chúng ta để ý rằng Chúa Giê-xu không nói, “Hãy đến cùng ta, ta sẽ tháo gỡ mọi cái ách trên các ngươi.”

Tại sao Ngài không cho chúng ta một cái giường, cái gối để ngủ yên, nhưng lại là một cái ách? Thưa! Vì sống trên thế gian này, chúng ta không thể không làm gì hết, nhưng phải “đi cày” (làm việc), đó là như mang một cái ách.

Vấn đề không phải là chúng ta có mang ách hay không, nhưng mang cái ách nào. Trước khi đến với Chúa, có người mang cái ách ích kỷ, chỉ để phục vụ chính mình. Có người cao thượng hơn mang một cái ách để phục vụ tha nhân hay một tổ chức tôn giáo, như trong câu hỏi Phi-e-rơ đặt với các sứ đồ và các trưởng lão trong sách Công Vụ 15:10, “Vậy bây giờ, cớ sao anh em thử Ðức Chúa Trời, gán cho môn đồ một cái ách mà tổ phụ chúng ta hoặc chính chúng ta cũng chưa từng mang nổi?” Khi chúng ta đến với Chúa, Ngài không tháo gỡ cái ách trên chúng ta để chúng ta không làm gì hết, nhưng cho chúng ta mang lấy cái ách của Ngài, để phục vụ Ngài.

Một đàng Chúa hứa trong Giăng là đến với Ngài, “Giăng 8:32 Các ngươi sẽ biết lẽ thật, và lẽ thật sẽ buông tha các ngươi,” nhưng đàng khác, Ngài lại trói buộc chúng ta bằng một cái ách. Có phải đây là một điều mâu thuẫn?

Xuất Ê-díp-tô Ký 21:1-6 có một điều luật về sự nô lệ như sau: “Ðây là luật lệ ngươi phải truyền cho dân sự: Nếu ngươi mua một người đầy tớ Hê-bơ-rơ, nó sẽ hầu việc cho sáu năm;// nhưng qua năm thứ bảy nó sẽ được thả ra, không phải thối tiền. Nếu nó vào ở một mình, thì sẽ ra một mình; nếu có vợ, thì sẽ ra với vợ //. Nếu người chủ cưới vợ cho, và nếu vợ sanh được con trai hay gái, thì nó sẽ ra một mình, vợ và con thuộc về chủ// . Nếu kẻ tôi mọi nói rằng: Tôi thương chủ, vợ và con tôi, không muốn ra được tự do, thì người chủ sẽ dẫn nó đến trước mặt Ðức Chúa Trời, biểu lại gần cửa hay là cột, rồi lấy mũi dùi xỏ tai; nó sẽ hầu việc người chủ đó trọn đời.”

Chúa Giê-xu không tự ý đặt một cái ách trên chúng ta, và ép chúng ta mang. Chúng ta yêu Ngài, vì Ngài đã yêu chúng ta trước. Từ tình yêu Chúa đó, trong sự tự do chọn lựa, chúng ta chọn mang ách của Ngài, như Ngài nói trong Giăng 14:15, “Nếu các ngươi yêu mến Ta, thì giữ gìn các điều răn ta.”

Ðọc qua lời dạy “Hãy gánh lấy ách của ta,” chúng ta có cảm tưởng rằng Chúa bảo chúng ta đến với Ngài, rồi ngồi đó, và đặt trên chúng ta một cái ách để chúng ta mang. Thế thì điều này có khác gì với việc mang cái ách của thế gian trước kia?

Tại sao mang lấy ách của Chúa lại được sự yên nghỉ?     

Ðiều quan trọng chúng ta cần phải để ý là mỗi cái ách đôi cần có hai con bò. Trong hình ảnh này, mỗi người chúng ta là một con bò, nhưng con bò thứ hai là ai? Thưa, chính là Chúa Giê-xu. Ngài không muốn chúng ta mang cái ách của Ngài một mình. Không những sẽ ban cho chúng ta thêm ơn sức để tiếp tục sống trên đời, Ngài làm việc bên cạnh chúng ta như một người bạn đồng lao.

Mang ách của Chúa Giê-xu, mang ý nghĩa chúng ta được nối liền với Ngài, và được sự giúp đỡ của Ngài. Trên thực tế, người ta thường không để hai con bò ngang sức với nhau mang cùng một ách, nhưng để một con to lớn, khỏe mạnh, chung với một con yếu đuối hơn để có thể kéo xe hay kéo cày (làm việc chung).

Như một con bò yếu, chúng ta có thể chuyển những gánh nặng trên vai chúng ta lên trên vai Chúa Giê-xu. Như vậy, sự yên nghỉ không phải là không có ách trên đời, nhưng đến từ việc có được một Ðấng quyền năng và yêu thương đang ghé vai mang ách chung. Vì thế, Ngài nói “Ách Ta dễ chịu và gánh ta nhẹ nhàng.”

Chữ “dễ chịu” trong nguyên bản nói đến sự thích hợp. Người ta làm những cái ách thể theo tầm vóc của mỗi con bò. Chúa không đòi hỏi chúng ta phải làm những gì vượt ra ngoài khả năng của chúng ta. Ách của Chúa cũng dễ chịu ở điểm là nó cho chúng ta ý nghĩa cuộc sống.

Nếu cái ách Do thái giáo ngày xưa gồm biết bao nhiêu luật lệ phức tạp, ách của Chúa thật giản dị, bao gồm hai chữ “Yêu thương.” Thư IGiăng 5:3 viết, “Vì nầy là sự yêu mến Ðức Chúa Trời, tức là chúng ta vâng giữ điều răn Ngài. Ðiều răn của Ngài chẳng phải là nặng nề.” Chúa Giê-xu tóm tắt điều răn của Ngài trong Phúc Âm Ma-thi-ơ: “Nầy là điều đầu nhất: Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy nghe, Chúa, Ðức Chúa Trời chúng ta, là Chúa có một. Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức mà kính mến Chúa là Ðức Chúa Trời ngươi. Nầy là điều thứ hai: Ngươi phải yêu kẻ lân cận như mình. Chẳng có điều răn nào lớn hơn hai điều đó.”

Điều kế tiếp chúng ta học là Chúa Giê-xu nói:

 2) “và học theo Ta” 

Như đã bàn ở trên là người ta thường cho một con bò lớn mạnh mẽ mang ách chung với một con bò nhỏ yếu hơn. Ðã được huấn luyện từ lâu, đã quen đường đi nước bước, con bò lớn mang ách chung với con bò nhỏ để huấn luyện cho con bò nhỏ. Chúa gọi chúng ta đến với Ngài, để mang ách chung với Ngài, và cũng để học theo Ngài.

Học theo Chúa là một tiến trình kéo dài suốt đời. Chúng ta học theo Ngài bằng cách thường xuyên đọc và suy gẫm lời Ngài (Kinh Thánh), cũng như chuyên cần nhóm lại để chia sẻ lẫn nhau điều mình học được. Chúng ta phải học từ Ngài lòng yêu mến, vâng phục, và tin cậy hoàn toàn vào Ðức Chúa Trời, cũng như lòng yêu người. Ngài đi đâu chúng ta đi đó; Ngài làm gì chúng ta làm theo. Chúa nói là Ngài “có lòng nhu mì, khiêm nhường.” Ðây là gương sáng mà chúng ta phải học, và cũng là lý do mà việc học của chúng ta từ Ngài “dễ chịu và nhẹ nhàng.”

Con bò nhỏ sẽ không cảm thấy gánh nặng của ách, nếu chịu đi theo con bò lớn. Ngược lại, nếu tìm cách đi theo ý riêng, nó sẽ chịu đau đớn vì ách kéo nó lại. Cũng vậy, nếu đến với Chúa mà chúng ta vẫn còn muốn cưỡng lại ý muốn của Ngài, chúng ta sẽ không thể nào có được sự yên nghỉ như Ngài đã hứa.

Chúng ta hãy tưởng tượng hình ảnh: Cái ách thường gồm một cây gỗ ngang để nối hai con bò chung với nhau, và một cây gỗ dọc để nối cây gỗ ngang với chiếc xe hay cái cày. Hình ảnh này cho chúng ta nhận thấy rằng: Nếu dựng đứng dàn gỗ dọc (bắp cày, cái xe bò) lên thì nó sẽ có hình thập tự giá!

Chúa Giê-xu đã mang thập tự giá trước, và cũng muốn chúng ta mỗi người sẽ mang thập tự giá của họ mà đi theo Ngài. Hôm nay, chúng ta thấy Ngài muốn chung vai gánh những gánh nặng cho chúng ta, nếu chúng ta chịu đến với Ngài, để gánh lấy ách của Ngài, cũng như để học theo Ngài. Khi chúng ta làm điều này, những mệt mỏi và gánh nặng trên đời sẽ trở nên được trút bỏ, chúng ta sẽ được yên nghỉ, bình an, thạnh mậu trong cuộc sống của đời này.

           GS. Ngọc Huệ - Diệp Lục Tố



Thứ Hai, 3 tháng 8, 2020

RƯỢU MỚI BÌNH MỚI

“Rượu mới phải đổ vào bầu mới” (Lu-ca 5:38).

 

Rượu mới bình cũ là câu chuyện dụ ngôn trong Phúc Âm Lu-ca 5:37-39, Chúa Giê-xu nói với những người đương thời của Chúa. Lời dạy của Chúa Giê-xu không thích hợp với lễ nghi, truyền thống của người Do thái, không phù hợp với Do Thái giáo. Không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ được, Chúa Giê-xu giải thích như sau: “Không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ, nếu vậy rượu mới làm nứt bầu ra; rượu chảy mất và bầu cũng phải hư đi. Song rượu mới phải đổ vào bầu mới. Lại cũng không ai uống rượu cũ lại đòi rượu mới; vì người nói rằng: Rượu cũ ngon hơn” (Luca 5:37-39).


Những ẩn dụ của Chúa Giê-xu phù hợp với nền văn hóa đương thời của Chúa. Bầu rượu bằng da cũ sẽ căng phồng nếu được dùng để đựng rượu mới, vì rượu mới vẫn tiếp tục lên men, cuối cùng bầu da sẽ bung rách, không còn dùng được nữa. Với ngụ ý, cái cũ và cái mới không để đi chung, không thể song hành với nhau được, vì cái này sẽ phá cái kia.

 

Khi được tái sinh, tâm linh của chúng ta được Chúa đổi mới, thì sẽ không còn chấp nhận, không thể chịu đựng nỗi những thói quen hư cũ như: Lười biếng, ích kỷ, luông tuồng, làm chuyện vô bổ, đời sống vô trách nhiệm… Khi tâm linh của người được Đức Chúa Trời tái sanh, được Thánh Linh soi sáng, dẫn dắt thì chúng ta sẽ say mê đeo đuổi những điều mang đến “yêu thương, vui mừng, bình an, nhẫn nhịn, nhân từ, hiền lành, trung tín…” Kinh Thánh 2Cô-rinh-tô 5:17, “Vậy! nếu ai ở trong Đấng Christ, thì là người dựng nên mới; những sự cũ qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới.”

 

Những người mới được ở trong Hội Thánh của Chúa, nhưng họ vẫn ở trong nền văn hóa đương thời, mà Hội Thánh của Chúa cũng không thoát khỏi ảnh hưởng của môi trường văn hóa. Thế nên, nếu Hội Thánh không cập nhật những tiến bộ của xã hội, thí dụ như: Internet đã khiến thế giới ngày nay đã phẳng, nhưng Hội Thánh không ứng dụng gì cả, vẫn dùng máy đánh chữ cổ xưa, đánh trên giấy stencil và in bằng công nghệ rô-nê-ô (ronéo), đi truyền giáo, thăm viếng vẫn dùng xe đạp… thì tân tín hữu mới gia nhập và những người trẻ trong Hội Thánh sẽ không thấy được việc làm cũng như hình ảnh tươi mới nào trong nơi sinh hoạt tâm linh. Nơi họ đến nghe giảng Lời Chúa là một bộ máy cũ rích, với không gian buồn thãm. Khiến họ nhìn sang Hội Thánh nơi khác, phòng nhóm thì đèn điện sáng choang, máy điều hòa mát rượi, chiếu slight câu gốc, Kinh Thánh trên màn hình led rõ ràng…. Cho dù đây là hình thức, nhưng ứng dụng công nghệ mới phục vụ cho đời sống tâm linh, khiến người ta thấy phần nào thỏa mãn trong lòng, nơi họ đến thờ phượng Chúa họ cho là “có ơn” Chúa nhiều thì họ thích đến hơn. Đây là sự thay đổi về hình thức, các Hội Thánh không nên bỏ qua.

 

Song song theo đó là nội dung bài giảng. Lời Chúa có quyền năng biến đổi con người từ xấu thành tốt theo tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời, từ một người lạnh lùng trở thành người nóng cháy phục vụ Chúa. Chúa khiến người hâm hẩm trở nên người có tâm tình yêu mến Chúa thật tình, để không bị mất phước mà xa Chúa như Kinh Thánh Khải Huyền 3:16, “Vậy, vì ngươi hâm hẩm không nóng cũng không lạnh, nên ta sẽ nhả ngươi ra khỏi miệng ta”. Chúa là tình yêu cho nên bản chất của Hội Thánh Chúa cũng là tình yêu, nơi những thánh đồ của Chúa nhóm lại, để thực hiện những chức năng của Hội Thánh, rao truyền sứ điệp không bao giờ thay đổi. Tuy nhiên, hình thức để rao truyền sứ điệp cần phải được cập nhật luôn để chinh phục những người khác, trong đó lớp người trẻ tuổi cũng cần được Hội Thánh quan tâm chinh phục.

 

Trong một xã hội biến động như hiện nay, Hội Thánh của Chúa cần thể hiện đó là một cộng đồng yêu thương, không phải là một thể chế, với những luật lệ bó buộc các thành viên phải làm điều này, không được làm điều khác cách cứng ngắt. Mà cần thể hiện cho người khác thấy đó là một cộng đồng hiệp nhất có sự gặp gỡ Chúa. Theo Chúa là đi vào con đường hẹp, nhưng dẫn đến sự sống (Ma-thi-ơ 7:13-14), cho nên Sứ đồ Phao lô đã khuyên: “Hãy giảng đạo, cố khuyên, bất luận gặp thời hay không gặp thời, hãy đem lòng rất nhịn nhục mà bẻ trách, nài khuyên, sửa trị, cứ dạy dỗ chẳng thôi” (2Ti-mô-thê 4:2). Lời khuyên này so với hai quan điểm về “sự thay đổi” của Rick Warren và Walt Wilson được mở rộng và cụ thể những việc cần phải làm khi rao truyền Danh Chúa cho người chưa tin và làm với tâm tình của người phục vụ trong sự chuyên cần, nhẫn nhịn, bền đỗ…

 

Mục sư Rick Warren viết: “Nghĩ về một Hội Thánh để chinh phục những người hư mất cho Đấng Christ. Và Chúa Giê-xu đã phán trong Lu-ca 5:38: “Rượu mới nên được đổ vào bầu da mới.” Theo Walt Wilson, “… cẩn thận lựa chọn các hình thức thích hợp để thực hiện chúng…” Đây là những lời khuyên tâm huyết để sinh ra những việc làm có ích lợi cho Hội Thánh Chúa như: Họ đã bỏ việc hướng về chuyện huyễn, tiết độ trong mọi sự, chịu cực khổ, làm việc của người giảng Tin Lành… Thế giới phẳng hiện nay là phương tiện truyền thông nhanh nhất và hiệu quả, tạo nên sự tươi mới giữa người truyền tin và kẻ nhận tin, Cơ Đốc nhân cần tận dụng để thích nghi và đáp ứng cho hoàn cảnh mới. Tôi dùng lời sau đây: “Tạo Ra Sự Thay Đổi” để kết thúc bài này: “Một tổ chức không còn thích hợp khi sự thay đổi bên ngoài tổ chức vượt quá sự thay đổi bên trong của tổ chức”[1] (Walt Wilson).

 

NGỌC HUỆ - DIỆP LỤC TỐ



[1] David T. Bourageois, Mục Vụ Trong Thời Đại Kỹ Thuật Số (Downers Grove, Illinois: InterVasity, 2013), tr 31.

 


Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2020

LỜI NGUYỆN TRƯỚC KHI HỌC – HÔM NAY HỌC VỀ CHÚA THÁNH LINH – HL CN 28/06/2020


 Đức Chúa Thánh Linh được sai phái đến để hướng dẫn chúng ta, là những người được Chúa Giê-su cứu, để cho chúng ta trở thành Cơ Đốc nhân, và bước vào chân lý của Đức Chúa Trời. Vì Đức Chúa Thánh Linh là Thần chân lý.

Đức Chúa Thánh Linh không tự mình nói điều gì, nhưng sẽ nói những gì Ngài nghe từ Đức Chúa Trời. Một trong những công việc của Đức Chúa Thánh Linh được sai phái đến thế gian là để làm vinh hiển Chúa Cứu Thế Giê-su. Trong chúng ta, không ai hiểu hết ý muốn của Đức Chúa Trời ban cho đời sống của mỗi người. Cho nên, ai cũng cần sự giúp đỡ của Đức Chúa Thánh Linh. Thánh Kinh cho biết không có sự giúp đỡ, dạy dỗ và rèn luyện của Đức Chúa Thánh Linh thì không ai có nếp sống đẹp lòng Chúa cho được: “Nhưng Đấng yên ủi, tức là Đức Thánh Linh mà Cha sẽ nhân danh Ta sai xuống, Đấng ấy sẽ dạy dỗ các ngươi mọi sự, nhắc lại cho các ngươi nhớ mọi điều Ta đã phán cùng các ngươi” Giăng 14:26).

Công việc Chúa Thánh Linh làm là vô hình, Chúa Giê-su nói về Đức Thánh Linh như gió vậy, gió muốn thổi đâu thì thổi, người nghe tiếng gió nhưng không biết gió từ đâu đến và sẽ đi đâu. Ai được sinh ra từ thiên thượng, nghĩa là bởi Thánh Linh của Đức Chúa Trời cũng như vậy. Được sinh ra từ Chúa, Cơ Đốc nhân đã thoát khỏi chốn tối tăm, thế giới mà sa-tan cai trị hiện nay, Kinh Thánh Giăng 3:8, đã cho biết như vậy: “Kẻ nào phạm tội là thuộc về ma quỉ; vì ma quỉ phạm tội từ lúc ban đầu. Vả, Con Đức Chúa Trời đã hiện ra để hủy phá công việc của ma quỉ.”  

Đức Thánh Linh đến như gió. Điều này mô tả quyền năng và sự hướng dẫn của Ngài trong cuộc đời của người tin cậy Chúa Giê-su. Đức Thánh Linh hà hơi của Ngài vào chúng ta, để chúng ta được đầy dẫy Ngài mà học Lời Chúa cho có kết quả. Điều này xảy ra cho chúng ta khi chúng ta được sinh lại từ thiên thượng từ trên bởi Đức Thánh Linh và Lời hằng sống của Đức Chúa Trời, khi chúng ta luôn luôn ở trong Ngài.

Nhờ ơn Chúa, chúng ta giờ đây chịu ngồi học, suy ngẫm, và ăn nuốt Lời Chúa trong Thánh Kinh dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Linh. GIỜ CHÚNG TA BẮT ĐẦU VÀO BÀI HỌC. Bài học sẽ kéo dài từ 45 phút đến 60 phút. Amen!

NGỌC HUỆ - DIỆP LỤC TỐ


Thứ Năm, 25 tháng 6, 2020

ĐỨC CHÚA GIÊ-SU ĐẾN THẾ GIAN ĐỂ CỨU CHUỘC NHÂN LOẠI

KINH THÁNH: Đức Chúa Giê-su Christ Đấng cứu chuộc nhân loại, qua sự chết của Ngài trên thập tự giá đây là công việc mà chính Ngài đã công bố: “Mọi việc đã được trọn; rồi Ngài gục đầu mà trút linh hồn” Giăng 19:30. Mặt khác Kinh Thánh Lu-ca 4:43 chép rằng “Ta cũng phải rao Tin Lành của nước Đức Chúa Trời nơi các thành khác; Vì cốt tại việc đó mà Ta đã được sai đến” (Lu-ca 4:43).
GS. PHẠM NGỌC HUỆ

DẪN NHẬP

“Ta cũng phải rao Tin Lành của nước Đức Chúa Trời nơi các thành khác; vì cốt tại việc đó mà Ta đã được sai đến” (Lu-ca 4:43). Chữ “phải” như là một mệnh lệnh từ Đức Chúa Cha, khiến Đức Chúa Giê-su  không ngần ngại đi từ nơi này đến nơi khác. Nhằm mục đích “rao Tin Lành của nước Đức Chúa Trời”. Đây là công việc của Đấng Christ khi đến thế gian. 

Đức Chúa Giê-su có mặt trên đất 33 năm. Trước khi Ngài bước lên thập tự giá làm trọn chương trình cứu rỗi của Đức Chúa Trời ấy là rao truyền Tin Lành cho loài người tội lỗi. Trong đó, 30 năm đầu Ngài làm trọn bổn phận của người con. Ba năm còn lại Chúa Giê-su chuyên tâm trong việc rao giảng Tin Lành, đuổi quỉ để cho người bị nó ám ra khỏi xiềng xích của Sa-tan, chữa bệnh cho kẻ đau, hóa bánh cho đoàn dân đông. Ngài đến với người nghèo để an ủi, đến với những con người tội lỗi để họ được tha thứ. Có lúc Ngài không ngủ để cầu nguyện. Tất cả là để đáp ứng nhu cầu tâm linh và thể xác của mọi người đang cần được cứu giúp.

Trong ba năm, một thời gian ngắn ngủi mà đối với Ngài thì Tin Lành này cần được rao giảng khắp cùng trái đất. Chính vì vậy, công việc của Chúa Giê-su cần kêu gọi và đào tạo môn đồ. Khi bước vào chức vụ, Ngài thấy những người đánh cá là Si-môn, Anh-rê ... Ngài cất tiếng gọi: “Hãy theo ta, và ta sẽ khiến các ngươi trở nên tay đánh lưới người” (Mác 1:17). Ngài đã huấn luyện hiệu quả những môn đồ đi theo Ngài. Bởi chính họ sẽ là những người tiếp tục rao giảng Tin Lành “khi Ngài hết công vụ trên đất”. Dù rất bận rộn nhưng Ngài vẫn dành nhiều thời gian ở riêng với các môn đồ để dạy dỗ, huấn luyện họ. Ngài ban quyền năng Thánh Linh để sau này họ trở thành những người mở mang Nước Chúa. Chúa Giê-su từng nói: “Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, kẻ nào tin ta, cũng sẽ làm việc ta làm; lại cũng làm việc lớn hơn nữa, vì ta đi về cùng Cha” (Giăng 14:12).

Khi Chúa Giê-su đi về cùng Cha, Ngài đi bằng con đường thập tự giá, như Phúc Âm Giăng ghi lại chính Chúa Giê-su đã công bố: “Mọi việc đã được trọn; rồi Ngài gục đầu mà trút linh hồn” (Giăng 19:30). Căn cứ vào những phần tôi phân tích trên, bài viết này sẽ triển khai các vấn đề sau đây: Mục đích của Đức Chúa Giê-su được sai đến thế gian là phải giảng Tin Lành cho các nơi khác nhau. Cho đến khi Chúa lên thập tự giá và Ngài công bố: “Mọi việc đã được trọn; rồi Ngài gục đầu mà trút linh hồn.” Qua các sự việc cụ thể như sau:

. Sự nhập thể và mục đích của Chúa Giê-su đến thế gian.
. Công việc của Chúa Giê-su khi Ngài tại thế.
. Phạm vi của sự cứu rỗi.
. Chúa Giê-su lên thập tự giá

I. Sự nhập thể và mục đích của Chúa Giê-su đến thế gian

Chúa Giê-su giáng thế để bày tỏ Đức Chúa Trời vô hình, Kinh Thánh chép: “Chưa ai trông thấy Đức Chúa Trời bao giờ, chỉ Con Một Đức Chúa Trời ở tận trong lòng Cha mới giải bày được Đức Chúa Trời cho chúng ta” (Giăng 1:18). Chúa Giê-su giáng thế nhằm bày tỏ sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời: “Đức Chúa Trời cho Con Ngài xuống thế gian nào phải để kết án thế gian, nhưng để thế gian nhờ Đức Con mà được cứu.” (Giăng 3:17). Chúa Giê-su nhập thể qua lòng trinh nữ Ma-ri nhằm để:

“Nhắc chúng ta nhớ rằng, sự cứu rỗi của chúng ta mang tính chất siêu nhiên... Giăng tuyên bố rằng những ai tin và nhận quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời thì được sinh lại: “Chẳng phải bởi khí huyết, hoặc bởi tình dục, hoặc bởi ý người, nhưng sanh bởi Đức Chúa Trời vậy” (Giăng 1:13). Điểm nhấn mạnh ở đây sự cứu rỗi không đến từ sự nổ lực của con người... Loài người không những không thế giành lấy sự cứu rỗi cho mình, mà cũng chẳng thể tự đưa Đấng Cứu Rỗi vào trong xã hội loài người.”[1]

Chúa Giê-su khi nhập thể mang nhân tính và thể chất trọn vẹn của một người từng trải nghiệm sự phát triển cơ thể: “Con trẻ lớn lên, mạnh khoẻ, đầy dẫy sự khôn ngoan. Ân phúc của Đức Chúa Trời ở trên Ngài: Đức Giê-su khôn ngoan càng thêm, thân hình càng lớn, càng được đẹp lòng Đức Chúa Trời và loài người” (Lu-ca 2:40,52). Ngài cũng khát và mệt mỏi: “Tại đó có cái giếng của Gia-cốp. Vì đi đường mệt mỏi nên Đức Giê-su ngồi nghỉ bên giếng. Lúc đó, khoảng giữa trưa” (Giăng 4:6)....

Phúc Âm Mác giới thiệu Chúa Giê-su là Con Đức Chúa Trời (Son of God) - Đấng vẫn còn mang thần tính. Trong Phúc Âm Mác 1:1. Bởi vì Ngài là Con Đức Chúa Trời, là Ngôi Hai Thiên Chúa, nên Ngài có thẩm quyền trong công tác giảng dạy, đuổi quỉ, tha thứ tội lỗi, cũng như Ngài đến thế gian để cứu chuộc loài người ra khỏi tội lỗi. Chúa Giê-su là Đấng Vô Tội, “Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng vốn chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Đấng đó mà được trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời” (2 Cô-rinh-tô 5:21).

Phúc Âm Giăng mô tả Chúa Giê-su là Ngôi Lời, Ngôi Hai Thiên Chúa, giáng thế làm người để cứu chuộc nhân loại và luôn ở giữa chúng ta: “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật; chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con một đến từ nơi Cha..” (Giăng 1:14). Chúa Giê-su là Đấng quyền uy, toàn năng “Đức Giê-su đến gần và bảo các môn đệ: “Tất cả quyền uy trên trời, dưới đất đều giao cho Ta” (Ma-thi-ơ 28:18).

Sự giáng sinh của Chúa Cứu Thế mang một ý nghĩa thần học sâu nhiệm, Ngài đã từ bỏ ngôi cao sang, Ngài hạ mình đến nỗi, được diễn tả như sau: “6Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; 7chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người; 8Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự” (Phi-líp 2:6-8).

II. Công việc của Chúa Giê-su khi Ngài tại thế

Công việc của Đấng Christ gồm:

1/ CÁC CHỨC NĂNG CỦA ĐẤNG CHRIST: Vai trò khải thị; Sự cai trị và công tác giải hòa của Đấng Christ.
            2/ CÁC GIAI ĐOẠN TRONG CÔNG TÁC CỦA ĐẤNG CHRIST
            a/ Giai đoạn hạ mình: Nhập thể; Chịu chết; Xuống âm phủ.
            b/ Giai đoạn tôn cao: Phục sinh; Thăng thiên và cầu thay bên hữu Chúa Cha; Tái lâm.
            3/ ĐÀO TẠO MÔN ĐỒ

1/ CÁC CHỨC NĂNG CỦA ĐẤNG CHRIST: Vai trò khải thị; Sự cai trị và công tác giải hòa của Đấng Christ.

Trong bài thảo luận này, công việc của Đấng Christ được tôi trình bày sau đây: Công tác Đấng Christ gồm có ba chức năng: “Bày tỏ; Cai trị và Giải hòa”[2]. Gần gủi Chúa để hiểu ba chức năng: Bày tỏ, Cai trị và Giải hòa của Đấng Christ cho chính mình là thế nào. Chính mình hiểu thì mới kinh nghiệm được và chia sẻ cho người khác. Đây là về phương diện lịch sử được một số giáo phụ đề cập, nhưng chính Jonh Cavil là người quan tâm khai thác đặc biệt khái niệm này. Tuy nhiên, theo G. C. Berkouwer cho thấy: “Người ta phản đối khái niệm nhiều chức vụ vì cho rằng phân biệt dù bất cứ hình thức nào cũng đều là lý của con người và sặc mùi Kinh viện.” Tôi cũng học hỏi được từ SGK trang 118 “không nên nhấn mạnh một mặt nào làm giảm bớt giá trị của các mặt kia, cũng không nên tách riêng từng khía cạnh một cách quá rạch ròi thành ra những hành động riêng biệt của Đấng Christ.”

Theo tôi, Hội Thánh Tin Lành Việt nam chú trọng nhiều đến công tác truyền giáo, vì Đấng Christ xuống thế gian để tìm những con chiên lạc mất của nhà Y-sơ-ra-ên, Ngài tìm kiếm kẻ hư mất, đỗ huyết trên thập tự giá, Ngài là giá chuộc cho nhiều người... Giăng 3:16 được nhấn mạnh, Hội Thánh nhấn mạnh đến ĐẠI MẠNG LỊNH trong Ma-thi-ơ 28:19-20, Công Vụ 1:8...

Kinh Thánh dạy Cơ Đốc nhân phải chu toàn các bổn phận ngay trong thế gian, tương ứng với chức phận trong cuộc sống dành cho mỗi người trong xã hội (1Cô-rinh-tô 7:17-24; Ê-phê-sô 6:1-9). “Anh em đã được chuộc bằng giá cao, chớ trở nên tôi mọi của người ta làm chi. Hỡi anh em, ai nấy khi được gọi ở đấng bậc nào, thì phải cứ ở theo đấng bậc ấy trước mặt Đức Chúa Trời” (1Cô 7:23-24). Như vậy, có nhiều cách để hầu việc Đức Chúa Trời chứ không phải chỉ nhấn mạnh đến việc truyền giáo. Chỉ nhấn mạnh riêng chức vụ nào thì điều này làm mất quân bình trong việc phát triển Hội Thánh trên đất này.

2/ CÁC GIAI ĐOẠN TRONG CÔNG TÁC CỦA ĐẤNG CHRIST

a/ Giai đoạn hạ mình: Nhập thể; Chịu chết; Xuống âm phủ

Sự nhập thể được tôi trình bày ở phần I, trong bài này.

Chịu chết: Bước thấp cùng cực trong sự hạ mình của Chúa Giê-su là chịu chết một cách nhục nhã. Mục đích của sự chết của Chúa Giê-su nhằm qua đó con người tội lỗi được Cứu Chúa chuộc tội. Ý nghĩa của sự chết chuộc tội: “Leon Morris viết: Sự chuộc tội là một giáo lý quan trọng của đức tin... do tầm quan trọng của giáo lý nên chúng ta phải nghiên cứu nó thật cẩn thận” (trích SGK, tr. 136).  Thuyết chuộc tội là quan trọng theo Erickson vì nó “liên quan đến sự cứu rỗi” và là nền tảng cho các giáo lý khác.  Có năm học thuyết chuộc tội được nêu ra ở sách Giáo Khoa là:
a/ Thuyết Socinus: Chuộc tội để làm gương.
b/ Thuyết Ảnh hưởng đạo đức: Chuộc tội là chứng minh tình yêu của Đức Chúa Trời.
c/ Thuyết Thần trị (Govermental Theory): Chuộc tội là chứng minh cho sự công bình của Đức Chúa Trời.
d/ Thuyết Giá chuộc: Chuộc tội là đác thắng các thế lực của tội lỗi và gian ác.
e/ Thuyết Đền bồi: Chuộc tội là sự bồi thường cho Đức Chúa Cha.

Sự cứu chuộc của Đức Chúa Giê-su mang nhiều ý nghĩa về sự hy sinh và thay thế (Ê-sai 53) và giao ước mới: “Ngài phán rằng: Nầy là huyết ta, huyết của sự giao ước đổ ra cho nhiều người” (Mác 14:24). Chúng ta, cả thảy là những tội nhân không thể làm gì để được cứu rỗi, cũng chẳng ai có thể tự cứu rỗi chính mình. Song, bởi ân điển của Ðức Chúa Trời, Chúa Giê-su đã giáng thế, tình nguyện chịu chết trên thập tự giá làm của lễ chuộc tội cho chúng ta. Nhờ tin nhận công lao cứu chuộc đó, chúng ta được kể là công bình, và đứng trong địa vị công bình của Chúa Giê-su. Ấy chẳng phải bởi việc làm của chúng ta nên chẳng ai có một cớ nhỏ để khoe mình, mà chỉ có cớ để cảm tạ Chúa mà thôi.

Xuống âm phủ: Bài Tín Điều Các Sứ Đồ có ghi việc Chúa Giê-su xuống âm phủ. Đây là một lẽ đạo ít được các nhà thần học đề cập đến.

b/ Giai đoạn tôn cao: Phục sinh; Thăng thiên và cầu thay bên hữu Chúa Cha; Tái lâm.

Việc Chúa Giê-su phục sinh là Ngài đã đánh bại sự chết, là bước đầu tiên trở lại sự tôn cao, việc này rất quan trọng, sự kiện phục sinh là khởi đầu cho những ngày sau rốt. Đó là chiến thắng khải hoàn của Chúa Giê-su trên tội lỗi, được giải thoát khỏi sự rủa sả giáng trên Ngài vì Ngài đã tình nguyện gánh tội thay cho toàn nhân loại. “Bằng cớ sự phục sinh của Chúa Giê-su”[3]:
“1. Ngôi mộ trống (Ma-thi-ơ 28:6; Lu-ca 24:3 ).
2. Lời chứng của các Thiên sứ (Ma-thi-ơ 28:46; Lu-ca 24:5-7 )
3. Những người nói chuyện với Ngài sau khi sống lại: Phi-e-rơ, Ma-ri, Thô-ma.
4. Giê-su đã ăn, uống, chỉ ra các dấu đinh ở tay, ở sườn, sau khi Ngài sống lại.
5. 500 tín đồ thấy Ngài cùng một lúc (1Cô-rinh-tô 15:6).
6. Chúa Giê-su hiện ra với Ê-tiên khi vị chấp sự tử đạo (Công vụ 7:56”.
7. Chúa hiện ra với Phao-lô trên đường Đa-mách (Công. 9:5”.
8. Bởi lời chứng của hàng triệu người đã chứng minh Ngài là cứu Chúa hằng sống.
9. Bởi những bằng chứng không thể chối bỏ (Công vụ 1:3).”

Phục Sinh của Chúa Giê-su là do quyền năng và sức mạnh của Thiên Chúa, điều này gây dựng đức tin cho người tin Chúa: “Anh em đã bởi phép báp-tem được chôn với Ngài, thì cũng được sống lại với Ngài bởi đức tin trong quyền phép Đức Chúa Trời, là Đấng đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại” (Cô-lô-se 2:12). Nhờ bởi vinh quang của Ngài, “Vậy chúng ta đã bị chôn với Ngài bởi phép báp tem trong sự chết Ngài, hầu cho Đấng Christ nhờ vinh hiển của Cha được từ kẻ chết sống lại thể nào, thì chúng ta cũng sống trong đời mới thể ấy” (Rô-ma 6:4). Rao giảng Đức Chúa Giê-su Phục Sinh là rao giảng về Đức Chúa Cha đã cho Đức Giê-su sống lại từ cõi chết và như thế là làm vinh hiển danh Ngài.

Sau đó là biến cố thăng thiên của Chúa Giê-su, Công vụ 1:9 ghi: “Ngài phán bấy nhiêu lời rồi, thì được cất lên trong lúc các người đó nhìn xem Ngài, có một đám mây tiếp Ngài khuất đi, không thấy nữa”. Chúa Giê-su thăng thiên, và Ngài đã ngồi bên hữu Đức Chúa Cha và cầu thay cho loài người. Sau khi Chúa Giê-su thăng thiên 10 ngày, Đức ChúaThánh Linh giáng lâm ở với Hội Thánh cho đến bây giờ. Như vậy, sự thăng thiên của Chúa Giê-su đem đến kết quả lớn lao, “Dầu vậy, ta nói thật cùng các ngươi: Ta đi là ích lợi cho các ngươi; vì nếu ta không đi, Đấng Yên Ủii sẽ không đến cùng các ngươi đâu; song nếu ta đi, thì ta sẽ sai Ngài đến” (Giăng 16:7).

Còn khía cạnh tôn cao khác nữa của Chúa Giê-su là sự tái lâm. Khi đó mọi đầu gối sẽ quì xuống và mọi lưỡi sẽ xưng Giê-su Christ là Chúa (Phi-lip 2:10-11). Những lời tiên tri về sự giáng sinh của Chúa Giê-su đã được ứng nghiệm hoàn toàn, điều nầy giúp Cơ Đốc nhân hoàn toàn tin tưởng rằng những lời tiên tri về sự tái lâm của Ngài cũng sẽ được ứng nghiệm trong tương lai, như: Tiên tri thời Cựu Ước (Đa-ni-ên 7:13). Chính Chúa Giê-su nói tiên tri (Ma-thi-ơ 25:31). Sứ đồ Phao-lô cho biết (1Ti-mô-thê 6:14).... Chúa tái lâm lúc nào? Đây là sự mầu nhiệm của Chúa, và chỉ có Đức Cha biết mà thôi: “Về ngày và giờ đó, chẳng có ai biết chi cả, thiên sứ trên trời hay là Con cũng vậy, song chỉ một mình Cha biết mà thôi” (Ma-thi-ơ 24:36).

3/ ĐÀO TẠO MÔN ĐỒ

Chúa Giê-su kêu gọi và đào tạo môn đồ để tiếp nối sứ mạng của Chúa trên đất sau khi Ngài về trời. Kinh Thánh: “16Ngài đi dọc theo mé biển Ga-li-lê, thấy Si-môn với Anh-rê, em người, đang thả lưới dưới biển; vì hai người vốn làm nghề chài. 17Đức Chúa Giê-su bèn phán cùng họ rằng: Hãy theo ta, và ta sẽ khiến các ngươi trở nên tay đánh lưới người. 18Tức thì hai người bỏ chài lưới mà theo Ngài. 19Đi một đỗi xa xa, Ngài thấy Gia-cơ, con Xê-bê-đê, với em là Giăng, đang vá lưới trong thuyền. 20Ngài liền kêu hai người; thì họ để Xê-bê-đê, cha mình, ở lại trong thuyền với mấy người làm thuê, mà theo Ngài” (Mác 1:16-20).

Trước khi làm việc và thường xuyên có một việc làm Chúa Giê-su không quên đó là cầu nguyện, như trước khi chọn 12 môn đồ Ngài cầu nguyện cùng Đức Chúa Trời: “Trong lúc đó, Đức Chúa Giê-su đi lên núi để cầu nguyện; và thức thâu đêm cầu nguyện Đức Chúa Trời. Đến sáng ngày, Ngài đòi môn đồ đến, chọn mười hai người, gọi là sứ đồ” (Lu-ca 6:12-13).

Ngài Đi và THẤY:

. “Ngài đi dọc theo mé biển Ga-li-lê, thấy Si-môn với Anh-rê, em người, đang thả lưới dưới biển; vì hai người vốn làm nghề chài” (c.16). 

 . “Đi một đỗi xa xa, Ngài thấy Gia-cơ, con Xê-bê-đê, với em là Giăng, đang vá lưới trong thuyền” (c.19). 

Động từ đi và thấy, cho thấy Chúa Giê-su không nề hà vất vã, mệt nhọc để đi bộ, Ngài đi dọc theo mé biển Ga-li-lê, Ngài đi một đỗi xa xa. Quang cảnh trời nước mênh mông, vùng này tôi đoan chắc là tầm nhìn không bị che khuất nên Chúa thấy Si-môn và Anh-rê đang thả lưới dưới biển; với tốc độ của người đi bộ Chúa Giê-su thấy Gia-cơ với em là Giăng, đang vá lưới trong thuyền!

Ngài KÊU GỌI:

. “Đức Chúa Giê-su bèn phán cùng họ rằng: Hãy theo ta,....” (c.17a).

 . “Ngài liền kêu hai người;....” (c.20).

Sự kêu gọi này là một mạng lệnh: “Hãy Theo Ta”! Lời kêu gọi mạnh mẽ, xác định một lệnh truyền. Đây không phải là một lời đề nghị suông; cũng không phải là một lời khuyên... Mà là một mệnh lệnh! “Đi theo” hàm chứa ý niệm chịu dưới quyền điều khiển của người kêu gọi đưa ra cho người được kêu gọi...; “và ta sẽ khiến các ngươi trở nên tay đánh lưới người.” Một lời kêu gọi xác định cho người được kêu gọi biết được đích đến của họ.

Mục tiêu huấn luyện được đặt rõ ràng: Chúa Giê-su đã nêu lên rõ ràng về mục tiêu đào tạo: “Ta sẽ khiến các ngươi trở nên tay đánh lưới người.” (c.17b). Chúa Giê-su sẽ làm cho các môn đệ của Ngài trở thành những “tay đánh lưới người”, đầy ơn của Chúa.

Chúa Giê-su đào tạo môn đồ của Ngài:

Phương cách Chúa Giê-su đào tạo các môn đệ: Phương cách đào tạo của Chúa là ĐI THEO CHÚA: Chúa bảo, “Hãy theo ta,” (c.17a).” Chúa dùng phương pháp thính thị (“thính – tai nghe”; “thị – mắt thấy”), để Ngài giáo dục môn đồ; không những môn đồ nghe và thấy Chúa dạy, mà còn trực tiếp thấy một cách sống động. Đây là một phương cách giáo dục rất khó, nếu người dạy không “chuyên môn, không chuyên nghiệp” thì nhiều khi không thể giải quyết những tình huống khó, có thể xảy ra khi nan đề đến đột ngột! Khi đi theo, các môn đồ nhìn thấy, được nghe và ghi nhớ sau đó thuật lại những Lời dạy dỗ của Chúa Giê-su cho người khác (nhớ và làm theo).

Chúa Giê-su đưa môn đồ vào công trường của Ngài: Chúa Giê-su kêu mười hai sứ đồ, bắt đầu sai đi từng đôi. Ngài ban quyền phép trừ tà ma. Ngài còn dặn: Đi đường đừng đem chi theo hết... chỉ mang dép và đừng mặc hai áo; hễ nhà nào cho sẽ vào, ở đó, cho đến khi đi; nếu chỗ nào người ta không chịu tiếp thì hãy đi khỏi đó. Công việc làm và kết quả của việc vâng Lời Chúa ra đi là: Các sứ đồ đi ra, giảng cho người ta phải ăn năn; đuổi nhiều ma quỉ, xức dầu cho nhiều kẻ bịnh và chữa cho được lành (theo Mác 6:7-13)[4] Phân đoạn Kinh Thánh trên, cho thấy rằng, trước khi làm việc gì cho Chúa thì phải qua các giai đoạn: Được Chúa kêu gọi (tuyển sinh), Ngài huấn luyện (đào tạo) và cuối cùng là Chúa sai đi.

Còn điều vô cùng quan trọng khác, đó là đi từng đôi để cầu nguyện cho nhau, cầu thay khi người kia đang nói chuyện với thân hữu, vì cuộc chiến này là giành lấy linh hồn tội nhân về cho Chúa, không phải là chiến đấu bởi thịt và huyết, bèn là chiến đấu với các thần dữ từ mọi miền trên trời, Ê-phê-sô 6:12 chép rằng: “Vì chúng ta đánh trận, chẳng phải cùng thịt và huyết, bèn là cùng chủ quyền, cùng thế lực, cùng vua chúa của thế gian mờ tối nầy, cùng các thần dữ ở các miền trên trời vậy.” Và Kinh Thánh cũng cho biết hai người hơn một người: “Hai người hơn một, vì họ sẽ được công giá tốt về công việc mình. Nếu người này sa ngã, thì người kia sẽ đỡ bạn mình lên; nhưng khốn thay cho kẻ ở một mình mà sa ngã, không có ai đỡ mình lên!” (Truyền Đạo 4:9-10).

III. Phạm vi của sự cứu rỗi

Bản Thể của “Con Đức Chúa Trời” mà Đức Chúa Giê-su mang lấy là là một vấn đề vô cùng hệ trọng. Vì nếu Ngài chẳng phải là Đức Chúa Trời thì việc chịu chết của Ngài trên thập tự giá không có tác dụng đền tội thay, mà chính Ngài là Đức Chúa Trời: “Ấy chính Ngài làm của lễ chuộc tội lỗi chúng ta, không những vì tội lỗi chúng ta thôi đâu, mà cũng vì tội lỗi cả thế gian nữa” (1Giăng 2:2). Và chỉ duy nhất Đức Chúa Trời mới là Đấng có thể hoàn thành một công trình như thế: “Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết” (Rô-ma 5:8). Đức Chúa Giê-su phải là Đức Chúa Trời thì cả nhân loại, không phân biệt dân tộc, màu da, giàu, nghèo mới được cứu ra khỏi tội, mới được đem vào sự sống đời đời và vào cuộc hòa giải với Đức Chúa Trời. Như vậy, phạm vi của sự cứu rỗi gồm cá nhân và cộng đồng cả thế gian.

IV. Chúa Giê-su lên thập tự giá

Trong phần câu hỏi có ghi: “Đức Chúa Giê-su Christ Đấng cứu chuộc nhân loại, qua sự chết của Ngài trên thập tự giá đây là công việc mà chính Ngài đã công bố: “Mọi việc đã được trọn; rồi Ngài gục đầu mà trút linh hồn” (Giăng 19:30).” Ngài đã xem chính Ngài như của lễ hy sinh đời đời vì tội lỗi của loài người. Hay nói cách khác thì Đức Chúa Giê-su Christ đã mua chuộc tất cả loài người khỏi sự hủy diệt của tội lỗi bằng sự đổ huyết của Ngài.

Trong 33 năm tại thế, có 3 năm Ngài đi làm công việc của Ngài khi giáng thế làm người. Ngài là Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng gánh lấy tội lỗi của thế gian bởi phép báp-tem của Ngài và rồi đến ngày Ngài lên thập tự giá (Ma-thi-ơ 3:13-17). Đấng Christ bày tỏ cho chúng ta rằng chính Ngài đã hy sinh như “Của Lễ Chiên Con của chính chúng ta.” Bởi sự hy sinh chính mình Ngài cho tội lỗi của con người, Ngài đã trả hết cái giá của sự cứu chuộc với Đức Chúa Trời vì dân sự của Ngài.

Trái ngược với sự dâng tế lễ tượng trưng và lặp đi lặp lại của A-rôn và những thầy tế lễ khác trong Cựu ước, Đấng Christ đã đến trong thế gian, gánh tội lỗi của thế gian trên thân thể Ngài qua phép báp-tem mà Ngài đã nhận từ Giăng Báp-tít và Chúa Giê-su chết trên thập tự giá, Ngài đã làm trọn mọi sự công chính của Đức Chúa Trời một lần đủ cả. Đó là lý do Ngài đã chịu báp-tem và đã dâng mình làm tế lễ trọn vẹn trên thập tự giá, như trong Hê-bơ-rơ 9:26 chép: “Hiện nay đến cuối cùng các thời đại, Ngài chỉ hiện ra một lần, dâng mình làm tế lễ để cất tội lỗi đi.” Chúa Giê-su giáng thế để làm sinh tế chuộc tội cho loài người, Kinh Thánh cho biết: “Và các con biết, Ngài đã đến để xóa bỏ tội lỗi và trong Ngài không có tội lỗi.” (1 Giăng 3:5).

Những yếu tố nền tảng liên quan đến ý nghĩa sự chuộc tội gồm những yếu tố sau: Bản tính của Đức Chúa Trời, Ngài là Đấng Thánh khiết và tình yêu thương. Ngài không chấp nhận tội lỗi của con người và chỉ có Ngài đủ năng quyền để cứu chuộc nhân loại  qua Đức Chúa Giê-su. Vai trò của luật pháp, luật pháp cho biết con người có tội không có khả năng thoát khỏi tội và qua Đức Chúa Giê-su chết trên Thập tự, người tin mới được Ngài cứu chuộc. Tình trạng của nhân loại, “Vì mọi người điều đã thiếu mất sự vinh hiển  của Đức Chúa Trời” (Rô ma 3:23).

Chỉ có  Đức Chúa Giê-su là Đấng Trung bảo giữa Đức Chúa Trời và con người và Ngài chuộc tội  cho chúng ta. Ngài là Đấng Christ, là Chúa Giê-su, là Đấng có thần tính và nhân tính, Ngài là Ngôi Hai trong Ba Ngôi Thiên Chúa, mà cũng là Đức Chúa Trời. Ngài là Đấng vô tội, sự chết của Ngài có giá trị cho những kẻ tin Ngài, dù Đấng Christ chịu điều sỉ nhục bởi lằn roi của kẻ thù; đau đớn trên cây thập tự vì tội lỗi của nhân loại. Đức Chúa Trời sai Con Ngài … sanh ra dưới luật pháp, để chuộc  những người dưới luật pháp” (Ga-la-ti 4:5).

So sánh với hệ thống tế lễ trong Cựu ước: Trong Cựu Ước các của lễ dâng lên bàn thờ  là của lễ  dâng lên Đức Chúa Trời xin sự tha thứ. Khi dâng sinh tế  và nó sẽ chết thay cho người phạm tội (Lê-vi Ký 1:3-4). Hành động trình dâng và đặt tay lên đầu con sinh là sự xưng tội của tội nhân. Việc đặt tay tượng trưng sự chuyển tội từ tội nhân sang con sinh. Sau đó của dâng mới được thầy tế lễ tiếp nhận.

Ý Nghĩa của việc Chúa Giê-su lên thập tự giá và lời kết: Trong Cơ Đốc giáo, thập tự giá là giao điểm tình yêu của Đức Chúa Trời và công nghĩa của Ngài. Chúa Giê-su Christ là Chiên Con của Đức Chúa Trời, Đấng cất đi tội lỗi của thế gian đi (Giăng 1:29). Do sự cám dỗ của Sa-tan (Sáng-thế Ký 3:1-5), A-đam và Ê-va đã phạm tội và bị xa rời  khỏi ân điển của Đức Chúa Trời (Sáng. 3:21-24). Đức Chúa Cha đã sai Con một của Ngài vào thế gian để trở thành con người xác thịt, và là Đấng Cứu Chuộc cho loài người tội lỗi. Chúa Giê-su sinh ra bởi một nữ đồng trinh (Lu-ca 1:26-38). Ngài vô tội, bởi Ngài là Con Đức Chúa Trời, “ Vì chúng ta không có thầy tế lễ thượng phẩm chẳng có thể cảm thương sự yếu đuối chúng ta, bèn có một thầy tế lễ bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội” (Hê-bơ-rơ 4:15), Ngài có thể cung ứng sự hy sinh vô giá mà Đức Chúa Trời đòi hỏi. Công lý của Đức Chúa Trời đòi hỏi sự phán xét và đoán phạt tội lỗi: “Nầy, mọi linh hồn đều thuộc về ta; linh hồn của cha cũng như linh hồn của con, đều thuộc về ta; linh hồn nào phạm tội thì sẽ chết” (Ê-xê-chi-ên 18:4). Tình yêu của Đức Chúa Trời đã cảm động Ngài ban Con độc sinh của Ngài để làm của lễ chuộc tội (Giăng 3:16).

Cái chết trên thập giá của Đức Chúa Giê-su là cớ vấp phạm cho người Do-thái, và là sự điên rồ đối với dân ngoại: “Thì chúng ta giảng Đấng Christ bị đóng đinh trên cây thập tự, là sự người Giu-đa lấy làm gương xấu, dân ngoại cho là rồ dại” (1Cô-rinh-tô 1:23). Nhưng đối với những kẻ được tuyển chọn, đó là quyền năng và sự khôn ngoan của Chúa “Song le, về những người được gọi, bất luận người Giu-đa hay người Gờ-réc, thì Đấng Christ là quyền phép của Đức Chúa Trời và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời” (1Cô. 1:24). Đức Chúa Trời bày tỏ sự hoàn tất sứ mạng của Chúa Giê-su: “Ta từ Cha xuống trần gian, rồi sẽ rời trần gian về với Cha” (Giăng 16:28)./.

GS. NGỌC HUỆ
(thevbi.net)



[1] Erickson, Thần học Cơ Đốc Giáo, NXB Tôn giáo, tr. 110.
[2] Erickson, Sđd, tr. 118.
[3] SỰ PHỤC SINH CỦA CHÚA GIÊ-SU, https://vietchristian.com/bhkt/reader.asp?pid=,src=/bhkt/thanhoc.txt,name=Bai,enc=2,nl=1,id=18,max=0, truy cập ngày 03/05/2020.
[4] “7 Ngài bèn kêu mười hai sứ đồ, bắt đầu sai đi từng đôi, ban quyền phép trừ tà ma. 8 Ngài truyền cho sứ đồ đi đường đừng đem chi theo hết, hoặc bánh, hoặc bao, hoặc tiền bạc trong dây lưng, chỉ đem một cây gậy mà thôi; 9 chỉ mang dép, đừng mặc hai áo. 10 Ngài phán cùng sứ đồ rằng: Hễ nhà nào các ngươi sẽ vào, hãy cứ ở đó, cho đến khi đi. 11Nếu có chỗ nào, người ta không chịu tiếp các ngươi, và cũng không nghe các ngươi nữa, thì hãy đi khỏi đó, và phủi bụi đã dính chân mình, để làm chứng cho họ. 12 Vậy, các sứ đồ đi ra, giảng cho người ta phải ăn năn; 13 đuổi nhiều ma quỉ, xức dầu cho nhiều kẻ bịnh và chữa cho được lành” (Mác 6:7-13).